Tiểu thuyết ngôn tình và quản trị văn hóa kiểu Trung Quốc

Tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc đang là loại văn học chiếm lĩnh áp đảo thị trường đọc ở Việt Nam những năm gần đây. Tiểu thuyết ngôn tình cùng các ấn phẩm văn hóa đi kèm nó như: truyện tranh, phim chuyển thể, game online, đồ dùng sinh hoạt, âm nhạc… này được các bạn trẻ rất yêu thích, tìm hiểu và sưu tập. Hiện nay có rất nhiều luồn ý kiến đánh giá về tác động tiêu cực, lẫn tích cực của Ngôn tình đối với tâm sinh lý người đọc dưới góc độ Xã hội học, Tâm lý học… Tuy nhiên, trong bài viết này, mục đích muốn đưa đến mọi người một cách nhìn mới đối với Tiểu thuyết ngôn tình khi phân tích các diễn ngôn mang tính chính trị ẩn chứa bên trong nó, thông qua góc nhìn chính trị học.

Ngôn tình là gì?

Ở Trung Quốc, cụm từ “言情小说” dịch sang tiếng Việt “ Tiểu thuyết ngôn tình” là dùng để chỉ dòng tiểu thuyết viết về các câu chuyện tình yêu lãng mạn. Cả thế giới đều có tiểu thuyết lãng mạn đâu chỉ riêng Trung Quốc ví dụ: Tiếng chim hót trong bụi mận gai, Trà hoa nữ…

Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý một điều, Tiểu thuyết ngôn tình là một dòng văn học của cổ Trung Quốc, có lịch sử hình thành và sức sống mạnh mẽ qua các thời đại, và trong khuôn khổ bài viết này tôi muốn đề cập đến Tiểu thuyết ngôn tình hiện đại hay còn gọi là Văn học thanh thiếu niên, vốn chỉ là một nhánh nhỏ, đang trong giai đoạn phát triển của dòng Tiểu thuyết ngôn tình nói chung.

 

Nguồn gốc và quá trình phát triển của tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc

Ngôn tình, hay tiểu thuyết tình cảm là mạch ngầm trong dòng chảy văn học Trung Quốc và sự phân hóa và phát triển của dòng Tiểu thuyết này gắn liền với quá trình chuyển biến hệ tư tưởng của Trung Quốc qua các giai đoạn lịch sử.

Từ những câu chuyện tình yêu lãng mạn được tường thuật lại dưới dạng văn bản có lẽ bắt nguồn sớm nhất ở trong Sử ký Tư Mã Thiên, khi nhắc đến chuyện Trác Văn Quân chạy trốn cùng với tình nhân trong Tư Mã Tương Như liệt truyện, từ đó mở màn cho những câu truyện mang ý vị phong hoa tuyết nguyệt. Đời Đường, Trung Quốc nở rộ những truyền kỳ tình yêu. Giai đoạn sau, tiểu thuyết tình yêu Trung Quốc liên tục phát triển và ngày càng lớn mạnh, đời Minh – Thanh, Tiểu thuyết Tài tử – Giai nhân xuất hiện và được hâm mộ như Ngọc Kiều Lê, Kim Vân Kiều truyện,… Cuối đời Thanh, tiểu thuyết tài tử giai nhân suy yếu, nhường chỗ cho một thể loại khác gọi tên là Tiểu thuyết “Uyên hồ” (uyên ương hồ điệp) mà tác giả nổi bật nhất chính là Từ Chẩm Á. Đó là một loại tiểu thuyết tài tử giai nhân mới, chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết giai nhân thời Minh – Thanh và các tác phẩm chủ nghĩa cảm thương của giai cấp tư sản nước ngoài, sinh ra trên mảnh đất của người nước ngoài nửa thực dân ở Thượng Hải, về tư tưởng vẫn không thoát khỏi quan niệm đạo đức luân lý phong kiến. Và sau đó là sự xuất hiện của Trương Ái Linh và Quỳnh Dao được coi là hai nhà tiểu thuyết tình cảm giao thời giữa văn học hiện đại và đương đại Trung Quốc. Các tác phẩm tiểu thuyết của họ chịu ảnh hưởng từ dòng tiểu thuyết “uyên ương hồ điệp” rất rõ gọi là Tiểu thuyết diễm tình. Đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn và tài tình giữa tiểu thuyết Uyên hồ nói riêng và tiểu thuyết thông tục nói chung với những tư tưởng mới của văn học phương Tây. Cuộc “ Đại Cách mạng văn hóa” cho đến sự kiện Thiên An Môn đánh dấu mốc lịch sử quan trọng, tạo ra cú sốc trong tầng lớp trí thức, hệ tư tưởng, văn hóa bị đứt gãy một cách trầm trọng, cho đến khi Trung Quốc bước vào giai đoạn hồi sinh thì vào những năm 90 của thế kỷ XX, trên văn đàn nước này bắt đầu dấy lên một khuynh hướng văn học mới, khuynh hướng sáng tác của giới trẻ với những cách tân táo bạo trong nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật: khuynh hướng văn học Linglei. Đề tài được nói đến trong dòng văn học này khá đa dạng, mới mẻ, hiện đại và nhạy cảm, có vấn đề từng bị xem là cấm kỵ. Các nhà văn đề cập đến khát khao phản đối những lề thói khuôn phép của xã hội cũ tình dục, ma tuý, dằn vặt nội tâm phản kháng của giới trẻ trước những thói giả tạo, thói đạo đức giả… Tất cả phô bày trung thực một xã hội hiện đại, gồm cả tốt và xấu.. Trào lưu này được biết đến đầu tiên qua những tác phẩm của nữ tác giả Vệ Tuệ. Cô được xem là cây bút khởi đầu cho các sáng tác đậm chất bứt phá của trào lưu văn học Linglei. Hưởng ứng trào lưu sáng tác này là một loạt các tác giả trẻ, như: Miên Miên, Cửu Đan… Mỗi tác phẩm gần như là những tự truyện của chính tác giả. Các nhà văn trẻ này đã nêu lên được tâm trạng bức bối của lớp thanh niên trưởng thành trong thời đại mới nhưng vẫn phải chịu ràng buộc bởi những lề thói của xã hội cũ.

Và chính sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của trào lưu văn học mới này ở Trung Quốc đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện của Tiểu thuyết ngôn tình hiện đại và Văn học thanh thiếu niên hiện nay tại Trung Quốc vào giai đoạn 2006-2007, sau khi trào lưu Linglei tạm lắng xuống. Chính là sự xuất hiện của Tào Đình, Minh Hiểu Khê với các tác phẩm pha trộn màu sắc Linglei và ngôn tình hiện đại mở đường cho hàng loạt các tác giả khác như Đồng Hoa, Phỉ Ngã Tư Tồn, Diệp Lạc Vô Tâm, Cố Mạn, Đinh Mặc… Tiểu thuyết ngôn tình hiện đại và Văn học thiếu niên bắt đầu xuất hiện tại Trung Quốc. Các thế hệ nhà văn 8x-9x này sinh ra và lớn lên trong bối cảnh xã hội Trung Quốc có nhiều biến động mạnh mẽ, xã hội hiện đại tiện nghi dần thay thế xã hội thuần chất Á Đông, nền kinh tế hàng hóa, thị trường chi phối toàn bộ xã hội Trung Quốc, khiến hình thành ý thức hệ mới. Tiểu thuyết ngôn tình hiện đại và Văn học thiếu niên không sử dụng những câu chữ táo bạo, trần trụi… mang dấu ấn nóng bỏng của sex như dòng văn học Linglei, “ngôn tình” nhẹ nhàng với những tình tiết đầy lãng mạn, được miêu tả chân thực, ướt ác đánh trúng tâm lý thời hoa mộng mong ước của không ít nữ độc giả.

Theo tôi, truyện ngôn tình là dòng mạch tiếp nối tiểu thuyết tài tử giai nhân và tiểu thuyết uyên ương hồ điệp, tiểu thuyết diễm tình của Trung Quốc, nhưng nó vẫn là một thể loại riêng, mang đặc trưng riêng của thời kỳ đương đại. Dù được chia làm nhiều thể loại như: xuyên không, cổ đại, huyền huyễn, hắc đạo…thì nói chung, dòng tiểu thuyết này mô tả những câu chuyện lấy tình yêu nam nữ đẹp đẽ làm trung tâm, thông qua các sự kiện và phát triển tâm lý nhân vật để phản ánh đa diện xã hội hiện tại. Các câu chuyện này thường không mang ý nghĩa sâu sắc, hời hợt và tác giả viết với mục đích chỉ dừng lại ở việc là sản phẩm thương mại. Mạng Internet xuất hiện, Trung Quốc hiện có số người sử dụng Internet khổng lồ khiến dòng văn học mạng dần nắm vị trí thống lĩnh ở nước này. Văn học mạng Trung Quốc gắn liền với dòng tiểu thuyết ngôn tình, vì mạng Internet giúp các nhà văn trẻ dễ dàng đưa tác phẩm của mình đến với số đông độc giả. Khi văn học mạng bắt đầu bùng nổ, những tiểu thuyết ăn khách nhất Trung Quốc đã xuất hiện ở đây. Sức ảnh hưởng của dòng văn học mạng không ngừng gia tăng trong đời sống văn học ở Trung Quốc, khi Internet và các thiết bị di động thông minh ngày càng phổ cập.

 

Sức ảnh hưởng lan tỏa của tiểu thuyết ngôn tình ở Trung Quốc và Việt nam.

Hiện nay, nhu cầu dành cho tiểu thuyết ngôn tình ở Trung Quốc là rất lớn. Theo thống kê tháng 1/2010, số lượng người đọc thường xuyên ra vào các trang web ngôn tình ở Trung Quốc đã lên tới gần 195 triệu, con số này tăng khoảng 20% qua từng năm. Theo tính toán, gần một nửa số người sử dụng mạng Internet ở Trung Quốc thường xuyên ra vào các trang văn học mạng.  Ngày càng nhiều tiểu thuyết ngôn tình ăn khách đến mức được chuyển thể thành phim truyền hình, điện ảnh, được dựng thành game online… Lượng tiền luân chuyển trong ngành công nghiệp văn học này không hề nhỏ, ở thời điểm 2010, con số này đã vào khoảng 5 tỉ tệ (17 nghìn tỉ VNĐ). Những trang văn học mạng kiếm tiền bằng cách tính phí đối với người đọc, mỗi 100.000 chữ, độc giả trả từ 2-3 tệ (7.000-10.000 VNĐ), hoặc độc giả cũng có thể trả chọn gói theo tháng. Mỗi ngày có khoảng 10 triệu lượt tài khoản thường xuyên ra vào đọc tiểu thuyết, đó là chưa kể hàng triệu lượt khách vãng lai khác.

Ở Trung Quốc, ngôn tình được xếp vào dòng sách nghiệp dư, bình dân nhưng vẫn bình đẳng với các dòng sách khác. Đơn giản vì Trung Quốc quá rộng lớn và đông dân, chỉ cần một phần nghìn dân chúng đọc sách ngôn tình thì ngôn tình đã có hàng chục vạn độc giả rồi. Còn ở Việt Nam thì sách ngôn tình cũng không có vị trí khác nhau là mấy, nhưng từ một dòng sách nghiệp dư ở Trung Quốc, ngôn tình được đưa vào vị trí trung tâm ở Việt Nam, chiếm vị trí lớn trong nhu cầu đọc của người trẻ, tỷ lệ của dòng sách ngôn tình so với toàn bộ thị trường, tính nghiêm trọng nằm ở đây. Trong các nhà sách, quầy sách ngôn tình với hàng trăm đầu sách in bìa bắt mắt bao giờ cũng tấp nập hơn cả. Người mua sách chủ yếu là giới trẻ, không hiếm những độc giả còn mặc nguyên đồng phục học sinh THCS, THPT đến chọn mua. Theo thống kê của Tiki từng thống kê, đó là 70% khách hàng mua sách ngôn tình của họ là nữ giới trẻ tuổi. Vì vậy, không lạ khi hiện tại ngôn tình trở thành loại sách bán chạy nhất Việt Nam.

Không chỉ các hiệu sách trên phố Đinh Lễ, Nguyễn Văn Bình, trên các trang mạng cũng ngập tràn truyện ngôn tình. Thử gõ cụm từ “tiểu thuyết ngôn tình” lên các trang tìm kiếm (ví dụ như google) chúng ta thấy gì?  Khoảng 11.100.000 kết quả chỉ trong vòng 0,57 giây. Hàng loạt đường link dẫn đến các trang web khá hot, các fanpage (trang) dành cho những người yêu thích ngôn tình, các bài viết phê phán tiểu thuyết ngôn tình. Trên các diễn đàn cho giới trẻ hay các diễn đàn văn học trên mạng đều có thư mục dành riêng cho truyện ngôn tình.  Tốc độ phổ cập nhanh chóng của blog cá nhân và các diễn đàn trên mạng Internet như Diễn đàn Lê Quý Đôn…, dẫn đến sự xuất hiện ồ ạt của đội ngũ dịch truyện online. Chính họ là những người cập nhật nguồn truyện nhanh nhất và đa dạng nhất, góp phần đưa ngôn tình tiếp cận độc giả trên diện rộng, và đa số đều được các công ty sách trong nước khai thác triệt để để xuất bản

Cách đây khoảng 2-3 năm, giới làm sách trong nước có dự đoán về giai đoạn thoái trào của ngôn tình. Nhưng ngôn tình không những không biến mất mà ngày càng nở rộ bởi có một trào lưu đang trỗi dậy: trào lưu làm phim chuyển thể từ các tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc. Hai năm gần đây được coi là thời gian bội thu của các tác phẩm chuyển thể, tiêu biểu như Bộ bộ kinh tâm, Sam sam đến đây ăn nè,  Năm tháng vội vã … Sự thành công của những bộ phim này một lần nữa lại làm cháy lên cơn sốt ngôn tình trong giới trẻ, các đầu sách được tái bản liên tục và thu hút thêm nhiều lượng độc giả mới tìm đến truyện vì tò mò sau khi đã xem phim. Có thể nói, “cơn bão” ngôn tình tại thị trường sách Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu lắng xuống. Để lý giải sức lan tỏa mạnh mẽ của Tiểu thuyết ngôn tình hiện đại ở Trung Quốc và Việt Nam ta cần hiểu rõ về đặc điểm và bản chất dòng văn học này.

 

Bản chất và đặc điểm của Ngôn tình hiện đại

Đặc điểm của Ngôn tình hiện đại:

Về đề tài và nội dung:

Những đề tài không quá phức tạm, dễ đánh vào tâm lý người hiện đại muốn giải tỏa áp lực cuộc sống nên phần lớn các tác phẩm này thường trở đi trở lại với các đề tài quen thuộc xoay quanh “ Nam – Nữ ” và tình yêu lãng mạn của họ dành cho nhau, dù nhân vật đặt vào bối cảnh nào, hành động ra sao thì cốt truyện vẫn nhấn mạnh tình yêu. Nội dung motip tình yêu khá đa dạng, hướng tới sự cá nhân hóa, các tạo hình nhân vật phù hợp với các cá tính của người đọc. Cốt truyện thường đơn giản cầu kỳ, không khó nắm bắt với các tình tiết mang tính “ Cẩu huyết”: những cuộc tình tay ba, éo le trắc trỡ, cao lãnh đại boss và tiểu bạch thỏ, tình cảm ủy mị, sướt mướt dễ làm người đọc mũi lòng, chiến đấu giữa thiện và ác, chính tà, gay cấn pha chút lãng mạn, hài hước, rắc rối yêu đương… Các tác giả nắm bắt tình huống và phát triển mạch tâm lý nhân vật khá chặt chẽ, phù hợp với tâm lý hiện đại. Bố cục chia thành 2 phần riêng biệt: Ân ái và Ngược thân, đôi khi đan xen hoặc tiếp nối tạo tâm lý hồi hộp, không thể dừng lại cho người xem.  Khi đọc xong một tác phẩm Ngôn tình hiện đại chúng ta khá dễ dàng tóm tắt và kể truyền miệng cho nhau nghe do nội dung, ý nghĩa nó truyền tải đa số thường sáo rỗng, không sâu sắc. Để tìm kiếm lượng đọc giả cao thì đôi khi tác giả chiều theo thị hiếu người đọc, tìm mọi cách để câu khách.

Về thể loại:

Được coi là nhánh văn học ngoại vi, phi chính thống, nên Tiểu thuyết ngôn tình hiện đại phân nhánh nhỏ ra nhiều thể loại: tiểu thuyết tình cảm, truyện tranh, tân kiếm hiệp, tản văn, thơ bụi…Và có dùng nhiều hình thức nghệ thuật để thể hiện nội dung Ngôn tình: phim ảnh chuyển thể, âm nhạc cổ phong, cosplay cổ trang, TV Show… Trong đó hình thức tiểu thuyết là tiên phong chi phối những hình thức khác. Lai ghép thể loại cũng là hiện tượng khá nổi bật của dòng văn học này. Sự tương tác giữa thơ và văn xuôi, tranh vẽ, kịch, âm nhạc … được các tác giả quan tâm và thể hiện khá sinh động. Điều này làm đọc giả cảm thấy không gò bó, được phiêu lưu và đồng cảm với tâm lý của nhân vật.

Về ngôn ngữ, nghệ thuật:

Khác với dòng văn học tinh hoa, Ngôn tình không cầu kỳ trong cách diễn đạt, không đặt ra những vấn đề nghiêm trọng, cũng không quá quan tâm đến cách tân lối viết bởi đa số các tác giả Ngôn tình nổi tiếng chưa qua đào tạo chuyên sâu về Văn học như: Thiên hậu ngôn tình… Chúng nhấn mạnh tính trò chơi, mang tính giải trí, gây hiệu ứng lây lan chứ không phải trí tuệ. Ngôn ngữ dùng trong văn phong Ngôn tình có khả năng gây hiếu kỳ và có sức hút lớn đối với giới trẻ, cập nhật nhanh ngôn ngữ mạng, từ lóng, đa số là từ thông tục đôi khi suồng sã, chúng không buộc người đọc phải suy ngẩm nhiều, gây hiệu ứng tức thì, nên các cụm từ trong Ngôn tình đôi khi tạo ra Trào lưu trên mạng như: Thanh xuân, soái ca, cao phú soái… Nhưng cũng phải thừa nhận có những tác giả có ý thức chăm chút ngôn ngữ, cách kể và thể hiện cảm xúc trong tác phẩm của họ. Đúng là sáng tác của họ chưa vươn tới được yêu cầu khắt khe của văn học tinh hoa, nhưng nổ lực chinh phục đọc giả của họ là rất đáng ghi nhận.

Về phương thức truyền bá và công nghệ quảng bá (PR):

Ngôn tình được viết và xuất bản theo phương thức truyền thống (in) hoặc xuất hiện trên các trang văn học mạng do các tài khoản đăng ký làm tác giả. Tuy nhiên Internet vẫn là không gian được tác giả và đọc giả đặc biệt thích thú bởi ở đó có không gian cho sự sáng tạo, giấu được thông tin cá nhân cả người viết lẫn người đọc, giá tiền chi trả cho việc đọc tiểu thuyết ngôn tình trên mạng rất rẻ nên giới trẻ ngày càng ưa chuộng văn học mạng. Sau khi tồn tại trên mạng, một số tác phẩm có số lượt cao thì các nhà xuất bản với các chủ tài khoản để mua bản quyền, biên tập và xuất bản dưới dạng truyền thống. Cũng có dạng ngược lại, in dạng truyền thống rồi đăng lên mạng để phát tán và mở rộng lượng đọc giả mà vẫn tiết kiệm thời gian, kinh phí. Cho dù dưới dạng thức nào thì tác giả cũng cố gắng tạo ra sự bắt mắt cho ấn phẩm của mình. Để tăng cường sức hút của mình, Ngôn tình dựa vào công nghệ truyền thông và coi PR là công đoạn không thể thiếu, đặc biệt là các sản phẩm ăn theo như Phim, game, các vật dụng đạo cụ… Riêng các tác phẩm ăn khách sau khi được mua bản quyền, sau lưng tác giả có cả ekip để lo mảng truyền thông, xây dựng fan club và fan page trên các mạng xã hội. Đôi khi họ tổ chức những buổi giới thiệu sách như event showbiz, họp fan club quốc tế…trước khi ra ấn phẩm, cú bắt tay này giữa các Ngôn tình và truyền thông đã tạo ra hiệu ứng rất lớn và lâu trong cộng đồng.

Về hiệu ứng với đọc giả:

Chúng ta cũng thấy, mặc dù gần đây có ý kiến cho rằng, Ngôn tình đã dần cạn kiệt ý tưởng, nhưng trên thực tế, cơn sốt này vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Trong thời đại ngày nay, sự phân hóa thị hiếu của người đọc là 1 thực tế, và việc chọn “thực đơn tinh thần” là quyền của họ và Ngôn tình đã làm rất tốt việc nắm bắt thị hiếu thị trường, phân hóa trong các hình thức thể loại: Phim, game, âm nhạc… nên các tác phẩm Ngôn tình không ngừng lan tỏa và phát triển không chỉ ở Đại Lục mà các nước châu Á như: Việt Nam, Hàn Quốc và thậm chí cả Mĩ.

Bản chất của Tiểu thuyết ngôn tình

  • Ngôn tình  là sản phẩm văn hóa thương mại của nền công nghiệp văn hóa, được trao đổi trên thị trường do tương tác giữa bên cung và bên cầu, tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường. Chúng có đối tượng phân khúc thị trường nên nội dung và các hình tượng nhân vật được xây dựng theo xu hướng cá nhân hóa, phù hợp với các hình mẫu lí tưởng cụ thể theo giới tính, tính cách, lĩnh vực nghề nghiệp,…  của giới trẻ. Đây là loại hàng hóa đặc biệt, không thể tính toán, đo lường giá trị, hạch toán lỗ lãi như các hàng hóa thông thường khác mà chúng còn chứa đựng ẩn dấu bên trong cả giá trị văn hóa nên chúng có một sự tác động đáng kể về mặt tinh thần, tri thức, tình cảm, khả năng thẩm mỹ, quan điểm chính trị và sức sáng tạo của một dân tộc khi tiếp nhận.
  •  Là sản phẩm của văn hóa đại chúng tại Việt Nam, Ngôn tình ra đời trên nền tảng xã hội tiêu dùng và truyền thông hiện đại: báo chí, truyền hình, mạng Internet, nhóm nhỏ… nên chúng có khả năng “xuyên không” không hạn chế về lãnh thổ, biên giới, không giới hạn phạm vi người đọc và người viết. Tác giả và đọc giả là bất cứ ai, không phân biệt tuổi tác, trình độ chuyên môn, giới tính, quốc gia; có thể đọc trong bất cứ thời điểm nào, đọc bằng sách giấy hay chỉ cần một cái smart phone. Không gian tồn tại chủ yếu của nó là không gian đô thị, gắn liền với “hiệu quả tiêu thụ sản phẩm” và “thị hiếu của đại chúng toàn cầu”.
  • Xét ở góc độ chính trị học, Ngôn tình là công cụ của một hình thức quản trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa tinh vi khi mà Ngôn tình trở thành công cụ để thực hiện: quản trị văn hóa, ngoại giao văn hóa – một phần quan trọng trong chính sách bá quản trị của các nước lớn, một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ ở TK XXI. Ta cùng nhìn vào độ chiếm sóng của Ngôn tình Trung Quốc và các ấn phẩm kéo theo của nó ở Việt Nam, việc lo ngại về khả năng Việt Nam bị “đồng hóa” bởi anh bạn láng giềng là có thật.

Nghe thì có vẻ không liên quan nhưng dĩ nhiên văn hóa hàm chứa hai loại tri thức: tri thức hiểu biết dân gian và tri thức hàn lâm chuyên ngành như dân tộc học, ngôn ngữ học, xã hội học, văn học, lịch sử học… Xét theo nghĩa này thì văn hóa như kiểu sân khấu với các loại diễn ngôn chính trị và ý thức hệ đan xen lẫn nhau. Chứ không phải chỉ là thế giới yên bình của công việc sáng tạo tao nhã, văn hóa là chiến địa để các phe chính trị công khai chống lại nhau, điều này lý giải việc các sinh viên Mĩ, Anh, Trung Quốc hay Ấn Độ đều được dạy là phải đọc các tác phẩm kinh điển của dân tộc mình trước khi đọc của dân tộc khác. Và họ có bổn phận phải hiểu rõ các giá trị và trung kiên, đôi khi trung kiên trên tinh thần không cần phê phán với dân tộc, truyền thống của mình và đồng thời phải chê bai hoặc đấu tranh chống lại các dân tộc và truyền thống khác. Vậy là, vấn đề rắc rối kéo theo là nó không chỉ dẫn đến việc cá nhân sùng bái nền văn hóa của riêng họ mà còn là việc họ cho rằng nền văn hóa đó là siêu việt, ưu tú. Các tác giả Ngôn tình có thể không bị quyết định cách máy móc bởi ý thức hệ, giai cấp, bối cảnh lịch sử chính trị-kinh tế nhưng tôi tin rằng các tác giả tồn tại trong xã hội mà họ đang sống, ở mức độ khác nhau họ cũng định hình và bị định hình bởi lịch sử, các trải nghiệm xã hội của họ theo mức độ khác nhau. Vì vậy mà chúng ta nên xem xét kỹ Ngôn tình dưới dạng hình thức sản phẩm văn hóa có vai trò quan trọng trong việc tác động hình thành thái độ, nhận thức, hệ quy chiếu và những sự kiện liên quan đến chính sách quản trị văn hóa của Trung Quốc đối với các quốc gia khu vực và đặc biệt là Việt Nam.

 

Antonio Gramsci và thuyết quản trị văn hóa (Cultural Hegemony)

Hegemonia (quản trị), theo nghĩa gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là thống trị, được dùng để miêu tả mối quan hệ giữa các thành bang thời kỳ Hy Lạp cổ đại. Đến TK XX, khái niệm quản trị được mở rộng hơn so với ý nghĩa ban đầu, và nhà Marxist người Ý Gramsci (1891-1937) là người đầu tiên nói đến khái niệm quản trị và quản trị văn hóa.

Atonio Gramsci (1891-1937)

Antonio Gramsci nguyên là Tổng thư ký Đảng Cộng sản Italia, tháng 11-1926 bị phát xít Đức bắt, kết án 20 năm tù vả mất năm 1937 trong nhà tù phát xít. Trong những năm tháng tù đày đó, học thuyết quản trị ra đời. Nhưng không may, ông không có thời gian phát triển học thuyết của mình một cách có hệ thống. Lý thuyết quản trị nằm rải rác và phân tán trong cuốn Quaderni del carcere (Selections from the Prison Notebooks), nên mãi đến năm 1971, công trình này mới được Nhà xuất bản Lawrence and Wishart dịch và xuất bản ở London. Nhưng, chỉ mới vài thập kỷ cuối TK XX, giới nghiên cứu chính trị học, mới đưa ra những trích dẫn về quan điểm quản trị của Gramsci, bởi lý thuyết của ông dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác.

Quản trị trong công trình Selections from the Prison Notebooks được lý giải là sự thành công của giai cấp thống trị trong việc áp đặt quan điểm về hiện thực, thế giới quan họ theo cách thức mà các giai cấp khác chấp nhận như lẽ thường. Sự chấp nhận thể hiện ở quan điểm cho rằng có cách thức nhận thức thế giới duy nhất. Vì vậy, bất kỳ nhóm người nào đại diện cho những quan điểm trái ngược đều bị đặt ra ngoài lề. Hay nói cách khác, quan điểm cơ bản về quản trị của Gramsci là con người không chỉ bị áp bức bởi quyền lực, mà cả bởi ý thức hệ với hàm nghĩa biểu thị nguyên tắc tổ chức của một xã hội, ở đó giai cấp này thống trị giai cấp khác không chỉ bằng vũ lực, mà còn bằng cách duy trì sự chấp nhận tự nguyện của nhóm phụ thuộc.

Bên cạnh đó, theo Gramsci, quyền lực của giai cấp tư sản nằm ở hai cơ sở có tầm quan trọng ngang nhau: thống trị về kinh tế, khả năng lãnh đạo về tri thức và đạo đức. Tức là, để có được và duy trì quyền lực chính trị, giai cấp vô sản phải thực hiện quản trị văn hóa, phải có tiếng nói thống trị trong truyền thông đại chúng và giáo dục, cũng như phải tiến hành kiểm soát toàn diện trên bình diện tư tưởng và tín ngưỡng.

Văn hóa, theo quan điểm này, được nhìn nhận như là sản phẩm của một cuộc đấu tranh vô cùng mãnh liệt chứ không đơn giản như vẫn nghĩ. Quan điểm về quản trị văn hóa của Gramsci thường được sử dụng để chỉ sự lãnh đạo về văn hóa của giai cấp thống trị được thể hiện ở cách thức mang những ý nghĩa khái quát hóa, thể hiện sự chấp nhận tự nguyện với sự sắp đặt phổ biến các mối quan hệ xã hội – một quá trình không thể kết thúc được, bởi quản trị không thể chấm dứt hoàn toàn.

Và ông chống lại quan điểm đơn giản hóa khái niệm nhà nước khi cho rằng nhà nước chỉ là một nhà nước giai cấp, trong đó giai cấp thống trị sử dụng nhà nước thuần túy như một công cụ thống trị và cưỡng bức đối với các giai cấp khác. Gramsci nhấn mạnh vai trò giáo dục của nhà nước, tầm quan trọng của nhà nước trong việc xây dựng các liên minh giúp giành được sự ủng hộ từ các giai tầng xã hội khác nhau, cũng như vai trò của nhà nước trong việc cung cấp sự lãnh đạo về văn hóa và tinh thần.

Sau này, Todd Gitlin đã phát triển triệt để quan điểm về tính độc đáo văn hóa của Gramsci. Trong một công trình nghiên cứu về truyền thông, ông cho rằng quản trị được đảm bảo khi giai cấp thống trị khắc sâu tư tưởng của mình lên nhóm phụ thuộc. Các giá trị văn hóa sẽ được thấm thấu vào mọi hoạt động trong cuộc sống của con người một cách tự nhiên, hay trở thành sản phẩm thông thường như tin tức, giải trí, làm việc, niềm tin và hiểu biết.

Như vậy, có thể thấy rằng, quản trị văn hóa là sự áp đặt ý thức hệ, tư tưởng, đạo đức của một nhóm người lên một nhóm phụ thuộc khác khiến họ chấp nhận một cách tự nguyện. Trong giai đoạn hiện nay, khi Toàn cầu hóa trở thành một yêu cầu tất yếu của các quốc gia thì nó đã tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho chính sách Quản trị văn hóa của các Chính phủ không chỉ còn gói gọn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó mà nó còn vươn ra phạm vi quốc tế. Mà tiêu biểu ở đây là “ Sự trổi dậy hòa bình” của Trung Quốc.

Trong quan hệ quốc tế, quản trị thường được định nghĩa là sự lãnh đạo hay sự thống trị của một cường quốc đối với một nhóm các quốc gia khác, thường là trong một khu vực. Do đó, rõ ràng khái niệm quản trị gắn liền với khái niệm về hệ thống quốc tế. Quản trị văn hóa không tồn tại đơn độc, mà là một hiện tượng chính trị đặc biệt tồn tại trong một hệ thống quốc tế nào đó, mà chính hệ thống này là sản phẩm của các hoàn cảnh chính trị và lịch sử cụ thể. Và trong hệ thống này, chỉ có một số quốc gia, với nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân lực phong phú, mới có tiềm năng trở thành quốc gia quản trị.

Quản trị, dù trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải được hậu thuẫn bởi sự vượt trội về quyền lực vật chất. Quản trị văn hóa, dù trong bất kỳ trường hợp nào, cũng phải được hậu thuẫn bởi sự vượt trội về quyền lực vật chất. Thêm vào đó, nó còn có thể được duy trì thông qua một nền văn hóa xuyên quốc gia thông qua chính sách ngoại giao văn hóa với công cụ là ngôn ngữ, công nghệ và những sản phẩm văn hóa đại chúng, giúp tạo tính chính đáng cho những quy định và chuẩn tắc của một hệ thống toàn cầu có thứ bậc mà nó lãnh đạo. Tuy nhiên, quản trị là một quá trình không bao giờ kết thúc, ở đó luôn luôn có sự cố gắng thay đổi từ cả hai nhóm uy thế và phụ thuộc.

 

Ngoại giao văn hóa

Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thoạt tiên, Thế kỷ 16-19, những mối quan hệ kỹ thuật – kinh tế từng bước chiếm ưu thế, nhưng đến thế kỷ 20, văn hóa và truyền thông bắt đầu lên ngôi. Bên cạnh kinh tế và quân sự, các quốc gia sẽ thực hiện cả tham vọng gây ảnh hưởng và lấn át các nước khác trên bình diện văn hóa, tư tưởng. Sau Chiến tranh Lạnh, ở châu Âu, bên cạnh ngoại giao về chính trị và kinh tế, thì ngoại giao văn hóa ngày càng nở rộ, và dần dần sẽ trở thành hình thức thực hiện quản trị chủ yếu. Giao lưu văn hoá xuyên quốc gia ngày càng sôi động và được thực hiện thông qua nhiều hình thức như giao lưu văn hoá dân gian, giao lưu văn hoá giữa chính phủ. Do đó, văn hoá dần trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong hoạt động ngoại giao của quốc gia hiện đại.

Theo tác giả Bành Tân Lương trong cuốn Ngoại giao văn hoá và sức mạnh mềm của Trung Quốc. Góc nhìn toàn cầu hoá, Nxb Bắc Kinh, 2008, xét về ý nghĩa “ngoại giao” truyền thống, “Ngoại giao văn hoá là một chủ đề mới nằm giao thoa giữa hai lĩnh vực văn hoá và ngoại giao..Ngoại giao văn hoá là ngoại giao thông qua các nội dung truyền bá, giao lưu văn hoá, là một loại hoạt động ngoại giao trong đó quốc gia có chủ quyền lợi dụng phương thức văn hoá nhằm đạt được mục đích chính trị hoặc đạt được ý đồ chiến lược đối ngoại đặc biệt”1. Trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, ngoại giao và văn hoá đã trở thành phương thức và mục đích của nhau, theo tác giả: hàm ý cụ thể của ngoại giao văn hoá “là tất cả hoạt động ngoại giao hoà bình của nhà nước có chủ quyền trong đó gồm cả văn hoá, với mục tiêu là bảo vệ lợi ích văn hoá và thực hiện mục tiêu chiến lược văn hoá đối ngoại của nước đó dưới sự chỉ đạo của chính sách văn hoá đối ngoại nhất định…”.

 

Thuật ngữ Toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa là tiến trình bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước: theo dòng chảy người di dân và nô lệ từ Châu Âu, đến Châu Phi và Châu Mĩ và hàng hóa từ Châu Á đến Châu Âu. Tuy nhiên, dòng chảy này đã tăng tốc rất nhanh trong vài thập kỷ qua nhờ yếu tố khoa học, công nghệ, kỹ thuật phát triển giúp kết nối cả thế giới.

Theo định nghĩa của nhóm tác giả trong tác phẩm Toàn cầu hóa, văn hóa địa phương và góc nhìn thì Toàn cầu hóa: “ là tiến trình dịch chuyển vốn, lao động, kỹ thuật, hàng hóa, tư tưởng và con người giữa những vùng đất, những xã hội, những nền văn hóa và kinh tế ở những chân trời khác nhau trên thế giới. Trong tiến trình này, những quốc gia, xã hội, nền kinh tế, và nền văn hóa khác nhau không ở vị trí bình đẳng.”

Tiếp cận Toàn cầu hóa theo nghĩa trên ta có thể thấy, bên cạnh toàn cầu hóa ở khía cạnh kinh tế, ta còn nhận ra một trào lưu toàn cầu hóa khác, thậm chí còn quyết liệt hơn, sâu sắc hơn, đó là toàn cầu hóa về văn hoá.  Cũng giống như toàn cầu hóa nói chung, toàn cầu hóa về văn hóa có từ rất lâu và là kết quả của sự tương tác giữa các cộng đồng. Nó diễn ra song song với toàn cầu hóa về kinh tế, nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ, các phương tiện giao thông và thông tin hiện đại mới cho phép con người vượt qua các giới hạn không gian và thời gian, tạo điều kiện cho giao lưu văn hóa phát triển trên phạm vi toàn thế giới. Loài người hàng ngày được tiếp cận nhiều nguồn thông tin và do đó có thêm nhiều dịp trao đổi tiếp xúc với nhau, đẩy mạnh sự giao lưu về mọi mặt từ kinh tế mậu dịch, đầu tư, du lịch đến văn hóa nghệ thuật.

Giao lưu kinh tế là tiền đề của giao lưu văn hoá, còn giao lưu văn hóa thúc đẩy nhận thức cả về sự khác biệt lẫn sự tương đồng về văn hoá. Dưới tác động của toàn cầu hoá, giao lưu văn hoá ngày càng đóng vai trò nổi bật trong quan hệ quốc tế. Các nước trên thế giới rất coi trọng việc sử dụng văn hoá tự thể hiện, tuyên truyền quan điểm riêng của mình mở rộng ảnh hưởng của quốc gia văn hoá. Về bản chất, toàn cầu hóa về văn hóa chỉ góp phần thúc đẩy sự hợp tác và chọn lọc giữa các nền văn hóa chứ không thể gây áp lực hay lấn át bản lĩnh văn hóa của bất cứ nền văn hóa nào. Tuy nhiên do mỗi nền văn hóa do có năng lực khác nhau nên các cường quốc, bằng tiềm lực kinh tế, chiến lược chính trị khôn khéo sẽ tận dụng Toàn cầu hóa văn hóa, biến văn hoá dần trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong hoạt động ngoại giao của quốc gia hiện đại. Các nước trên thế giới rất coi trọng việc sử dụng văn hoá tự thể hiện, tuyên truyền quan điểm riêng của mình mở rộng ảnh hưởng của quốc gia văn hoá trở thành hình thức ngoại giao mới, bên cạnh đó nó còn đóng vai trò như bàn đạp để bằng cơn lũ hàng hóa thông qua hoạt động giao lưu văn hóa trong chính sách ngoại giao văn hóa, quy định các tiêu chuẩn văn hóa của mình áp đặt cho các dân tộc yếu hơn.. Vì vậy ta có thể thấy chính Toàn cầu hóa văn hóa tạo điều kiện cho ngoại giao văn hóa diễn ra dễ dàng và phạm vi quản trị văn hóa của các quốc gia ngày càng được mở rộng ra khu vực và thế giới, chứ không còn bó hẹp trong lòng nội địa.

 

Tiểu thuyết ngôn tình và chiến lược quản trị văn hóa kiểu Trung Quốc

Tư tưởng Hoa tâm, chủ nghĩa Đại Hán trong chủ trường đường lối định hướng Chiến lược quan trị văn hóa của Trung Quốc.

Trong lịch sử lâu dài của Trung Quốc, không như ở phần còn lại của thế giới, nước này chẳng bao giờ sẵn lòng chấp nhận sự bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia lớn và nhỏ. Nên nằm ở tâm điểm của chiến lược quản trị văn hóa Trung Quốc là thuyết Hoa tâm vốn đặt Trung Quốc vào địa vị quan trọng nhất của thế giới với trách nhiệm cai trị thiên hạ thông qua nền văn hóa và thể chế thượng đẳng và ưu việt của Trung Quốc.

Đây là một triết lý chính trị được minh họa toàn diện trong tuyên ngôn năm 2010 được gọi là “Giấc mộng Trung Hoa” của Đại tá Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Lưu Minh Phúc đã viết trong cuốn sách 300 trang bán chạy nhất ở Trung Quốc giai đoạn này “Chưa từng có một điều nào trên thế giới tương tự như sự trỗi dậy hòa bình của dân tộc này”;  “Trung Quốc sở hữu một gen văn hóa thượng đẳng cần thiết để trở thành người lãnh đạo thế giới”. Tình cờ vào năm 2013, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình tại kỳ họp Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc, đã đặt tên cho bản cương lĩnh chính trị tổng thể gọi là “Giấc mộng Trung Hoa”. Trong đó, mô tả rằng “Sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa là giấc mơ lớn nhất của Trung Quốc” và nhấn mạnh về một “kỷ nguyên mới” của nền chính trị, hình dung về một Trung Quốc là “cường quốc hàng đầu thế giới” vào năm 2050. Lời tuyên bố của người đứng đầu Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc đã đánh dấu sự thay đổi chính sách lớn và quan trọng bậc nhất của cường quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ này để đạt được mục tiêu trở thành “cường quốc hàng đầu thế giới” và hoàn thành “ Giấc mộng Trung Hoa”.

Từ bài phát biểu này, ta có thể liên tưởng đến quyển sách nhan đề Bá Chủ: Kế Hoạch Của Trung Quốc Để Thống Trị Á Châu và Thế Giới, xuất bản năm 2000, trong đó đã phác họa kế hoạch của Trung Quốc nhằm xây dựng quyền bá chủ thế giới qua ba giai đoạn: 1. Quản trị căn bản, trong đó việc xâm chiếm Biển Đông là một trong hai mục tiêu phải hoàn tất; 2: Quản trị trong vùng khu vực đối với các nước Đông Nam Á; và 3. Quyền bá chủ toàn cầu, thiết lập một trật tự thế giới mới dưới sự thống trị của Trung Quốc, một Pax Sinica. Kế hoạch này chính là bản chất của Đại Hán Tộc Chủ Nghĩa, nhằm thực hiện chính sách bành trướng Đại Hán cực đoan, cụ thể là nhằm thu hồi lại tất cả những vùng đất mà Bắc Kinh cho rằng đã từng nằm dưới sự cai trị của các triều đại Trung Hoa trước đây. Truyền thông của Trung Quốc công khai nêu ra các kịch bản như sáu cuộc chiến tranh trong tương lai để “thu hồi” các vùng đất này nhằm chuẩn bị dư luận quần chúng Trung Quốc.

Các chính sách đối nội và đối ngoại của Trung Quốc cũng có xu hướng xoay trục rõ ràng để chuẩn bị cho kế hoạch này, đặc biệt là việc xác định tầm quan trọng của chính sách quản trị văn hóa và ngoại giao văn hóa, Trung Quốc phải chuyển sang giai đoạn mới thực hiện ngoại giao nước lớn, chủ động đề xuất sáng kiến mới, nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng của mình ở khu vực, trên thế giới và muốn cho cả thế giới biết mình không đơn giản chỉ là một đất nước quan trọng, mà còn là một khối văn minh giúp tạo cảm hứng để thế giới muốn giống Trung Quốc hơn và chấp nhận hình thái quản trị chính quyền của Trung Quốc.

Những quan điểm này thể hiện rất rõ trong bài phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong một cuộc họp với các quan chức chính phủ vào ngày 13/10, cho biết điều được ông đặc biệt quan tâm sau khi lên nắm quyền lãnh đạo đất nước là “ Sức mạnh của quyền lực mềm – Văn hóa”, “Quyền lực mềm là phương tiện để thành công trong thế giới chính trị” “Nền văn hóa và truyền thống phong phú của Trung Quốc là thứ vũ khí lợi hại nhất mà chúng ta có”,  “Đối với thứ vũ khí không nóng này, chúng ta cần phải lấy được lòng tin của thế giới”. Ông nhấn mạnh sự cần thiết của Trung Quốc là phải làm thế nào để đưa hệ thống giáo dục, văn hóa và truyền thống trong nước ra thế giới. Bắc Kinh chủ trương quyền lực mềm chắc chắn sẽ giúp họ tạo được các mối quan hệ nhằm khẳng định vị thế của mình trước Mỹ, và việc sử dụng quyền lực mềm của Trung Quốc có vẻ hấp dẫn so với những quốc gia đang hướng tới xây dựng một chính sách cai trị độc đoán và nghiêm khắc hơn

Chính sách ngoại giao văn hóa của Trung Quốc và Ngôn tình

Chính sách ngoại giao văn hóa chỉ là nhánh trong tổng thể chiến lược quản trị văn hóa kiểu Trung Quốc. Sau chiến tranh lạnh thập kỷ 90, TQ thực hiện chính sách đối ngoại mới “tăng cường kết bạn”. Cho đến nay, đường lối đối ngoại “tăng cường kết bạn” ngoại giao bạn bè vẫn được TQ duy trì tiếp tục. : “Đẩy mạnh điều chỉnh chính sách ngoại giao láng giềng, thúc đẩy triển khai chiến lược “một vành đai, một con đường”, nội dung đã nêu rõ: “Đi sâu đối thoại chiến lược và hợp tác thực chất với các nước lớn, xây dựng khung quan hệ nước lớn lành mạnh, ổn định. Thúc đẩy toàn diện ngoại giao chu biên (láng giềng mở rộng), xây dựng “cộng đồng vận mệnh chu biên”. Theo đó, TQ sắp xếp thứ tự ưu tiên:

  1.  “Ngoại giao nước lớn” được đặt ở vị trí đầu tiên
  2.  “Ngoại giao láng giềng” được đặt ở vị trí thứ hai.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc kỳ vọng biến ngoại giao văn hóa thành “các kênh tác động chiến lược” góp phần xây dựng hình ảnh quốc gia, giảm thiểu phản ứng lo ngại quốc tế về “mối đe dọa Trung Quốc” và tái thiết lại “vành đai văn hóa” mới tại khu vực Đông Á. Mục tiêu của chính sách ngoại giao văn hóa của Trung Quốc là tập trung gia tăng sức mạnh mềm ở khu vực.

Trung Quốc tiếp tục vận dụng đạo lý trên trong sự kết hợp với học thuyết “Sức mạnh mềm” do học giả Mỹ Joseph S. Nye nêu lên vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Sức mạnh mềm theo ông chính là “khả năng hướng tới mục tiêu bằng sức hấp dẫn của mình chứ không phải bằng cách cưỡng ép trong các công việc quốc tế . Việc xem xét sức mạnh mềm của một quốc gia được căn cứ vào ba nguồn chính: sức thu hút quốc tế của nguồn lực văn hóa, khả năng ảnh hưởng của chính sách ngoại giao và sự lan tỏa của giá trị chính trị văn hóa của quốc gia đó trên thế giới. Với thế mạnh văn hóa sẵn có của một nền văn minh lâu đời, Trung Quốc đã coi văn hóa là cửa ngõ để tiếp cận các nguồn lực khác.

Sau khi đã gia tăng được “sức mạnh cứng”, cả trên bình diện kinh tế và quân sự, Trung Quốc đang dành mối quan tâm lớn hơn cho “sức mạnh mềm” của mình, đặc biệt là sức mạnh văn hóa. Trong Văn kiện đại hội 17 năm 2007, Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh “trong thời đại hiện nay, vai trò của văn hoá trong cạnh tranh sức mạnh tổng hợp của đất nước ngày càng tăng. Ai chiếm cứ được đỉnh cao của phát triển văn hoá,  người đó có thể nắm quyền chủ động trong cuộc cạnh tranh quốc tế khốc liệt này”, đồng thời đi đến xác định, muốn nâng cao sức mạnh và tầm ảnh hưởng của văn hóa “phải vực dậy sức sống sức sáng tạo của văn hóa toàn dân tộc, nâng cao sức mạnh mềm văn hóa quốc gia”.

Theo tôi, chiến lược nâng cao sức mạnh mềm văn hóa trong quan hệ quốc tế của Trung Quốc tập trung vào ba hướng cơ bản:

  1.  Nhận thức toàn diện văn hóa truyền thống Trung Hoa, truyền bá các giá trị văn hóa phổ biến nhằm tăng cường sức ảnh hưởng quốc tế của văn hóa Trung Hoa;
  2.  Tích cực thúc đẩy sáng tạo, hiện đại hoá văn hóa truyền thống;
  3.  Tăng cường giao lưu đối ngoại, thúc đẩy văn hóa Trung Hoa hướng ra thế giới.

Theo đó, việc triển khai gia tăng sức mạnh mềm văn hóa ra thế giới trong đó có khu vực Đông Nam á của Trung Quốc được thực hiện trên ba phương thức chính: thành lập Học viện Khổng Tử; thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hóa giữa các nước, hợp tác giáo dục, cấp học bổng cho học sinh các nước đến Trung Quốc học tập, trong đó dành nhiều ưu tiên cho khu vực Đông Nam Á; tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa lớn như “Năm quốc gia”, “Năm văn hóa”, “Năm ngôn ngữ”, “Tết văn hóa”,…; Trung Quốc tập trung vào ở bốn nhóm chính sách cơ bản là hỗ trợ có trọng điểm đối với các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động trao đổi thương mại văn hóa đối ngoại, xuất khẩu các sản phẩm văn hóa đại chúng như truyền hình, phim ảnh, âm nhạc… mà cụ thể ở đây là tiểu thuyết ngôn tình và các ấn phẩm đi kèm của nó ra toàn thế giới trên cơ sở tuân thủ pháp luật Nhà nước Trung Quốc, bao gồm: hỗ trợ thuế; đẩy mạnh dịch vụ tài chính; và kiện toàn thủ tục hải quan… thông qua các sản phẩm văn hóa này để quảng bá ngôn ngữ, hình ảnh đất nước, con người Trung Quốc và làm cho làn sóng văn hóa Trung Quốc tràn vào Đông Nam Á.

Có thể thấy, việc gia tăng sức mạnh mềm trong chính sách ngoại giao văn hóa của Trung Quốc trong thời điểm này kết hợp song song với “sức mạnh cứng” sẽ giải quyết được 3 mục tiêu mà Chiến lược quản trị văn hóa Trung Quốc đặt ra: Thứ nhất, sự gia tăng sức hấp dẫn văn hóa sẽ khiến cho các nước khác không thấy Trung Quốc là “một mối đe dọa”. Thứ hai, thông qua sự lan tỏa ngày càng sâu rộng của văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là các giá trị mang tính phổ quát cao của Nho gia, nước này sẽ từng bước tạo thành một loại quyền lực giúp gia tăng hơn sức cạnh tranh quốc tế. Thứ ba: Nâng cao vị thế và ảnh hưởng của Trung Quốc trên trường quốc tế.

 

Tiểu thuyết ngôn tình-công cụ quản trị văn hóa đặc sắc kiểu Trung Quốc đối với khu vực

Trong phần này, tôi sẽ đưa ra các đặc trưng trong quản trị văn hóa của Trung Quốc đối với các sản phẩm văn hóa đại chúng, trong đó có tiểu thuyết ngôn tình để làm rõ luận điểm những sản phẩm này chứa đựng các diễn ngôn chính trị được lồng ghép tinh vi bên trong được Trung Quốc xuất khẩu ra khu vực và quốc tế.

Vừa xây vừa chống

Thành công vang dội của bộ phim” Vì sao đưa anh tới” của Hàn Quốc tại thị trường Trung Quốc đã khiến Chính phủ nước này “đứng ngồi không yên”. Các quan chức chính phủ nước này đã tổ chức một buổi gặp mặt để thảo luận về vấn đề được cho là “bức xúc”: về sự phổ biến quá mức của phim Vì sao đưa anh tới và làm thế nào để tạo ra được một bộ phim có sức hấp dẫn như vậy.

Theo ông Vương Kỳ Sơn, Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, phim truyền hình Hàn Quốc đang giành thế thắng trong cuộc chiến văn hóa. Các nhà làm phim nước này nhất định không chịu ở “chiếu dưới” và chắc chắn sẽ vào cuộc để tìm ra giải pháp “hạ nhiệt” cơn sốt phim Hàn bằng cách đầu tư để phát triển dòng phim dựa trên cốt truyện tiểu thuyết ngôn tình chuyển thể, và xem đây là biểu tượng để chống lại Hàn Quốc, Hồng Kông và Đài Loan. Hiện nay chúng ta có hàng loạt tác phẩm Ngôn tình chuyển thể thành phim được các bạn trẻ yêu thích: Hoa thiên cốt,… Thậm chí, để tránh bị xâm lăng văn hóa, Tổng cục phát thanh truyền hình Trung Quốc mới đây thông báo tới các đài truyền hình địa phương về lệnh cấm nghệ sĩ, ca sĩ Hàn Quốc “hoạt động trên sóng truyền hình Trung Quốc” và “không được phép tổ chức biểu diễn có quá 10.000 khán giả”; Đình chỉ lịch chiếu vô thời hạn các sản phẩm văn hóa như: phim ảnh, âm nhạc, show truyền hình thực tế có các nghệ sĩ Hàn hợp tác tham gia.

Ngoài ra, song song với thông báo từ Tổng cục phát thanh truyền hình trung ương Trung Quốc là loạt bài báo phê phán các nghệ sĩ Kpop, Hàn Quốc. Thậm chí, giới truyền thông đại lục khẳng định các bộ phim truyền hình hay của Hoa ngữ đang bị khả năng diễn xuất nghèo nàn của các thần tượng Kpop như Ki Bum và YoonA phá hỏng. Và đi cùng những bài báo chê bai nghệ sĩ Hàn Quốc là các bài viết ủng hộ những ca sĩ, diễn viên gốc Trung Quốc trong các nhóm nhạc Hàn như Victoria (f(x)) và Lay (EXO)…

Tận dụng triệt để:

Chính phủ Trung Quốc đã tận dụng một cách triệt để bao gồm: thời điểm, khai thác các lĩnh vực truyền thông, nguồn lực: vật chất cho đến con người để quảng bá hình ảnh quốc gia và tuyên truyền những thông điệp chính trị.

Cụ thể là việc Trung Quốc đã tận dụng Olympic Bắc Kinh 2008 như là cơ hội “vàng” để hình ảnh của Trung Quốc đến với báo chí quốc tế, cũng như du khách nước ngoài tạo cơ hội cho ngành du lịch phát triển, cũng như góp phầm giảm bớt những cách hiểu sai lầm về Trung Quốc, mang lại một hình ảnh tươi mới cho Trung Quốc thu hút đầu tư nước ngoài cũng như củng cố quan hệ chính trị quốc tế. Chiến dịch truyền thông của Olympic Bắc Kinh rất thành công với một khẩu hiệu xuyên suốt “Cùng một thế giới, chung một ước mơ” (One World, One Dream). Chiến dịch truyền thông này được lựa chọn một cách chọn lọc, sáng suốt cùng các hình ảnh của Olympic Bắc Kinh mang đạm nét văn hóa Trung Quốc. Đây là một thành công lớn trong chiến dịch quảng bá hình ảnh của đất nước Trung Quốc. Sức nặng ngày càng lớn của Trung Quốc trên trường quốc tế ngày càng tăng. Điều đó cho thấy truyền thông có thể giúp cải thiện cái nhìn thiện cảm về hình ảnh đất nước trong lòng công chúng.

Ngoài ra để thực hiện chủ trương phong phú hóa các hoạt động văn hóa nghệ thuật, và cũng để chuẩn bị cho sự hòa nhập vào dòng chảy chung của toàn cầu hóa văn hóa, Trung Quốc đẩy mạnh hơn nữa chính sách “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tài” (còn gọi là chính sách Song bách), cho phép nhiều thành phần khác nhau trong xã hội tham gia hoạt động trong lĩnh vực văn hóa. Trung Quốc chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa nhằm thu hút sự quan tâm và tham gia nhiệt tình của đông đảo các tầng lớp dân chúng, qua đó các sản phẩm văn hóa đại chúng được gia tăng mạnh mẽ về số lượng. Cùng với mạng Internet phát triển, đây là mãnh đất màu mở để văn học mạng phát triển mà cụ thể ở đây là dòng Tiểu thuyết ngôn tình. Bởi bất kỳ ai cũng có thể đăng ký làm người sáng tác trên các trang web ngôn tình để giới thiệu những tác phẩm của mình. Theo tính toán của trang văn học Shanda – một trang văn học mạng lớn nhất Trung Quốc – mỗi quý, có khoảng 1,5 triệu người đăng ký làm tác giả trên trang của họ và viết ra hơn 4 triệu kỳ truyện. Các tác giả thường tải từng phần tác phẩm của mình lên mạng, ai muốn đọc thì phải có tài khoản, đăng nhập và trả tiền. Bù vào đó, độc giả được tham gia vào cốt truyện, có quyền góp ý cho nhà văn nên phát triển cốt truyện theo hướng nào, kết thúc ra sao, có hậu hay không có hậu. Tất cả những điều đó làm cho sách ngôn tình hết sức phát triển. Qua đó ta thấy, Trung Quốc có kho cung ứng không ngừng tạo sản phẩm Ngôn tình đủ thể loại để đáp ứng nhu cầu của đọc giả trong và ngoài nước.

Thậm chí Trung Quốc còn giở thủ đoạn nguy hiểm, dùng giới nghệ sĩ có sức ảnh hưởng toàn cầu để đẩy mạnh tuyên truyền các thông điệp chính trị ra quốc tế thông qua mạng xã hội như: “chủ quyền Biển Đông”… Ngay sau phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế (PCA), Trung Quốc lập tức tiến hành chiến dịch tuyên truyền quy mô lớn, vận động những ngôi sao hạng A, trong đó có không ít thần tượng phim ngôn tình của giới trẻ Việt Nam như: Hoắc Kiến Hoa, Triệu Lệ Dĩnh, Đường Yên…trong giới giải trí Trung Quốc, dùng sức ảnh hưởng của bản thân để tuyên truyền ra cộng đồng quốc tế, chia sẻ thông tin và hình ảnh nhằm xuyên tạc chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông. Đa số các post đều đăng tải câu: “这才是中国,一点不能少” (~Tạm dịch: Đó là Trung Quốc, một chấm cũng không thể mất đi => ám chỉ đường lưỡi bò) kèm theo đó là hình ảnh bản đồ Trung Quốc và “đường lưỡi bò” trên biển Đông. Sẽ ra sao nếu hàng trăm triệu người hâm mộ cuồng nhiệt trên thế giới mù quáng tin vào những tuyên bố vô căn cứ này? Sẽ ra sao nếu chiến lược tuyên truyền xuyên tạc kia “thấm” vào nhận thức của người hâm mộ trẻ khắp thế giới? Khi những nghệ sĩ Trung Quốc không còn đơn thuần phục vụ cho ngành giải trí, mà còn trở thành công cụ cho các mưu đồ chính trị của nước này.

Đánh lạc hướng dư luận:

Dù nội dung các tiểu thuyết ngôn tình đối với tâm lý giới trẻ Trung Quốc khá tiêu cực, và chính phủ kiểm soát mạng Internet khá gắt gao vậy tại sao chính phủ nước này lại tạo điều kiện cho nó nở rộ? Câu trả lời nằm ở việc chính phủ cấm các trang mạng nước ngoài như Google, Facebook…, tập trung phát triển những trang mạng trong nước, khuyến khích độc giả sử dụng những trang mạng Trung Quốc, thực hiện chính sách “cua đồng lột xác” trên mạng, đây là từ ám chỉ rằng chính phủ khuyến khích các tác giả viết về những vấn đề ca ngợi, lãng mạn, bay bổng như tiểu thuyết ngôn tình…, để đánh lạc hướng dư luận làm công chúng lãng quên thực tại, lãng quên những tiêu cực xã hội, đẩy mâu thuẫn, xung đột trong nước ra bên ngoài. Bởi hiện nay, nội tại Trung Quốc có nhiều mâu thuẫn, xung đột như mâu thuẫn trong cách thực hiện công cuộc chống tham nhũng “Đả hổ, diệt ruồi” của Tập Cận Bình, mâu thuẫn về hệ lụy phát triển đất nước, chênh lệch giữa nông thôn – thành thị, vùng ven biển – vùng nội địa, đặc biệt vùng phía Đông và Tây Nam, giữa công nghiệp với nông nghiệp, các vấn đề chống đối ở Tây Tạng, Tân Cương, vấn đề về việc làm – thất nghiệp, ô nhiễm môi trường, già hóa dân số, phân tầng xã hội, phân hóa giàu – nghèo, văn hóa – xã hội, người nhập cư và người yếu thế trong xã hội v.v…Chính vì những lẽ đó, Trung Quốc không cấm dòng tiểu thuyết ngôn tình, mà ngược lại còn để nó nở rộ.

Đảm bảo sự thống nhất tư tưởng chính trị theo Đảng Cộng Sản trong tất cả các sản phẩm văn hóa:

Câu chuyện bắt đầu từ Tháng 3-1987, Bộ Phát thanh – Truyền hình Trung Quốc triệu tập một hội nghị gồm đại diện của tất cả các đơn vị sản xuất truyền hình khắp cả nước. Tại đây, Bộ cảnh báo về xu hướng “giải trí hóa” phim ảnh trên sóng truyền hình, đồng thời đưa ra chính sách mới: tích cực, chủ động dồn lực sản xuất những bộ phim “giai điệu chủ” nhằm mục đích truyền bá lịch sử, văn hóa, tư tưởng và thẩm mỹ của Trung Hoa tới mỗi người dân Trung Quốc và thế giới. Chính sách này phân loại phim truyền hình thành một số thể loại chính, nằm trong một khái niệm chung mà Chủ tịch Giang Trạch Dân gọi là “giai điệu chủ”:

  •   Dòng phim về những đề tài mang tính thực tiễn, ca ngợi người tốt việc tốt – gọi chung là phim “thần tượng tuổi trẻ”; hiện nay là phim Ngôn tình chuyển thể
  • Dòng phim cổ trang, gồm phim lịch sử, dã sử
  • Dòng phim gia tộc luân lý
  • Dòng phim cách mạng, dựng lại ngữ cảnh thời xưa hoặc tái hiện chân dung những nhân vật nổi tiếng
  • Dòng phim hình sự, chống tham nhũng

Những phim này được Nhà nước hỗ trợ nhiều mặt, chẳng hạn ưu tiên chiếu ở các đài địa phương lớn vào giờ vàng. Đặc biệt, chúng nằm trong kế hoạch tuyên truyền của chính phủ: Tất cả các phim, chỉ trừ dòng hình sự, chống tham nhũng, đều được hỗ trợ xuất khẩu, nhằm mục đích cao nhất là phổ biến “giá trị Trung Hoa” tới các quốc gia trong khu vực. Trong số những nước mà Trung Quốc hướng tới, Việt Nam nổi lên như một tiền đồn. Phần lớn các phim “giai điệu chủ” đã được giới thiệu ở Việt Nam, khán giả nước ta chẳng xa lạ gì với chúng. Các phim đều được xuất khấu với giá hết sức ưu đãi sang Việt Nam, thậm chí một số phim cho không theo thỏa thuận hợp tác giữa các đài truyền hình hai nước. Hiện nay, làn sóng phim truyền hình Trung Quốc với chủ đề lịch sử hấp dẫn hay những vấn đề nổi cộm của xã hội đương đại đang chiếm thời lượng lớn trên hầu hết các kênh truyền hình của các nước Đông Nam Á, thậm chí khiến cho một số người dân các nước bản địa “thuộc” lịch sử Trung Quốc hơn lịch sử nước mình. Điều này gây tác động xấu đến truyền thống văn hóa của các dân tộc các nước Đông Nam Á.

Trong lĩnh vực quản lý truyền thông và xuất bản các ấn phẩm văn hóa như Tiểu thuyết ngôn tình…, Ngày 20/3/2005, Chính phủ ra quyết định cho phép nguồn vốn không thuộc nhà nước có thể tham gia vào các ngành nghề và lĩnh vực văn hóa như xuất bản, in ấn, còn có thể tham gia cổ phần vào việc phát hành quảng cáo, xuất bản tin tức, các tiết mục chế tác về âm nhạc, thể thao, giải trí của đài phát thanh và truyền hình, các tiết mục chế tác điện ảnh truyền hình, có thể xây dựng và kinh doanh mạng truyền hình không dây, tham gia vào sự cải tạo kỹ thuật số. Tuy nhiên các công việc về thông tin, công khai hoá và xuất bản của đất nước Trung Quốc phải được thực hiện theo nguyên tắc “kiên định theo nguyên tắc,  đường lối định hướng của Đảng, kiên định bằng việc thống nhất, cố định và cổ vũ việc thực hiện “ Giấc mộng Trung Hoa”  , tập trung vào việc công khai rõ ràng và hướng dẫn truyền thông bằng một hướng dẫn đúng đắn. ” Nội dung, hình thức các sản phẩm văn hóa này đều được kiểm duyệt gắt gao trước khi được đưa lên truyền thông và xuất khẩu ra nước ngoài. Điều này lí giải vì sao, các truyện Ngôn tình hay phim ảnh, âm nhạc đều mang diễn ngôn về một đất nước Trung Hoa vĩ đại, thấm đẫm Chủ nghĩa Đại Hán.

Và điều này giải thích việc vừa qua, báo chí Việt Nam đã phản ánh nội dung cuốn tiểu thuyết ngôn tình thể loại trinh thám mang tên “Đạo mộ bút ký” của tác giả Nam Thúc Phái được NXB Thời Đại mua bản quyền và phát hành lại có chi tiết các nhân vật là người Trung Quốc đi tìm mộ cổ qua “đảo Tiên Nữ” (trùng với tên đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam) và “cụm đảo Thất Liên” (tên Trung Quốc đặt cho 7 đảo thuộc nhóm An Vĩnh, ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam). Trong đó, “đảo Tiên Nữ” và “cụm đảo Thất Liên” trùng với tên các địa danh có thật. “Tiên Nữ” là tên một đảo nhỏ thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, còn “Thất Liên” là tên Trung Quốc đặt cho 7 đảo thuộc nhóm An Vĩnh ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Đây là những chi tiết bịa đặt chủ quyền lãnh thổ nghiêm trọng đối với nước ta.

Ta có thể thấy điều đáng lo ngại ở truyện ngôn tình không chỉ là ở những chuyện loạn luân hay đồng tính luyến ái, hay hoang đường ma quái, kinh dị, mà ở chỗ có nhiều cuốn sách ngôn tình đề cao văn hóa Đại Hán, văn hóa Hoa Hạ, xem văn hóa Trung Quốc là số một, đề cao dân tộc Trung Hoa, xem những dân tộc khác (ví dụ như người Nhật Bản, Việt Nam…) là thấp kém. “Tư tưởng Đại Hán, bình thiên hạ” được thể hiện ở thể loại Ngôn tình cổ trang, tiên hiệp… Trong truyện cổ đại lẫn tương lai có rất nhiều trận chiến đánh dẹp và thâu tóm giữa các quốc gia khác nhau, những nhân vật chính là hoàng đế chuyên chế, đại tướng quân, thống soái quân đội… Những trận chiến trong Ngôn tình, hầu như không phải là chiến tranh bảo vệ tổ quốc mà là sự xâm lược lẫn nhau, nhưng kẻ thua cuộc ít khi có tư tưởng phục quốc và chiến thắng vì đa phần là nhân vật phụ, nhân vật chính luôn là kẻ chiến thắng và là kẻ xâm lược, kẻ thống trị thiên hạ. Những cuộc chiến trên cách lĩnh vực khác như kinh tế, thể thao, nghệ thuật cũng tương tự và nếu đối thủ là người thuộc quốc gia khác thì Trung Quốc luôn là kẻ chiến thắng, thậm chí có một số sản phẩm hạ thấp dân tộc khác. Ngôn tình cung đấu, miêu tả Hoàng đế Trung Quốc là Cửu ngũ chí tôn, tất cả các nước xung quanh là chư hầu và hàng năm phải triều cống trong sự nhẫn nhục.  Đa số các tác phẩm Ngôn tình viết về thời kì Dân Quốc luôn phát họa người Nhật Bản xấu xa, độc ác, cướp nước vd: Vẫn cứ thích em, Hoạt sắc sinh hương… Có tác phẩm nhân vật nữ chính đi du học Nhật Bản và nói về đất nước, văn hóa, con người Nhật Bản với giọng miệt thị, Tác phẩm “ Dụ tình” có đoạn miêu tả các cô gái Việt Nam vì ham tiền, bị bán thân vào nhà chứa trở thành nô lệ tình dục cho hắc bang và nhân vật nữ chính tỏ ra dững dưng với điều này cho rằng hiển nhiên. Đây rõ ràng là mặt tiêu cực, mặt chưa được của ngôn tình.

Và đến đây thì chúng ta cũng có thể nhận thấy những hình thức ngoại giao văn hóa mà Trung Quốc đang tiến hành đối với Việt Nam, trong nhiều ví dụ thực tế mà không chỉ có tiểu thuyết ngôn tình đang chiếm đóng thịu trường văn học Việt Nam, các cây bút văn học hiện đại Việt Nam sáng tác Ngôn tình hóa, Phim truyền hình Trung Quốc chiếm sóng các đài ở Việt Nam cả trung ương lẫn địa phương. Các ca sĩ lấy ý tưởng Mv mang màu sắc Ngôn tình tiên hiệp: Bảo Anh, Hari Won, Trương Quỳnh Anh…Khán giả thuộc sử Trung Quốc hơn sử Việt Nam, ngôn ngữ của giới trẻ trao đổi với nhau bằng các từ lóng từ các trào lưu trong các tác phẩm ngôn tình và phim chuyển thể….Khái niệm quản trị văn hóa – tư tưởng mãi tới thập niên 30 của thế kỷ 20 mới ra đời. Nhưng trên thực tế, Trung Quốc đã thực hiện chiến lược quản trị văn hóa – tư tưởng với các nước láng giềng suốt mấy nghìn năm qua. Ngày nay, với sự phát triển của truyền thông, dường như cuộc “xâm lăng văn hóa” này diễn ra một cách mạnh mẽ và rõ ràng hơn bao giờ hết.

Vấn đề đến từ phía những kẻ “bị xâm lăng”

Ta cần phải khẳng định rằng quá trình toàn cầu hóa về mặt văn hóa là một quá trình tự nhiên, nó không phụ thuộc vào bất cứ ai cũng như không chịu sự kiểm soát của bất cứ lực lượng nào.Trong bối cảnh hiện nay, dân tộc nào đứng ngoài cuộc giao lưu văn hóa và không chủ động trong giao lưu văn hóa thì sẽ khó tránh khỏi suy thoái. Toàn cầu hóa về văn hóa sẽ làm lan toả toàn cầu những thước đo mới, những tiêu chuẩn mới trong cuộc sống của nhân loại và do đó nó không tương thích với một vài cách quản lý cũ, một vài cách cai trị cũ hoặc cách kinh doanh cũ. Trong mối quan hệ với tính độc lập văn hoá, giao lưu văn hóa đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi dân tộc phải có bản lĩnh, phải biết chủ động tiếp thu những giá trị văn hóa mới, đồng thời loại bỏ những giá trị văn hóa không còn phù hợp, trên cơ sở đó lựa chọn các loại hình văn hóa cho phù hợp. Chúng ta có thể lựa chọn một chính sách khôn ngoan, làm sao để chúng ta ít bị thua thiệt và chúng ta có thể tận dụng tối đa những cơ hội từ quá trình này. Chúng ta cần phải biết chủ động hướng các chính sách của mình sao cho phù hợp với xu thế toàn cầu hóa về văn hoá, và biện pháp cấp bách nhất, đồng thời cũng là tốt nhất cho tất cả các dân tộc là dân chủ hóa xã hội và cùng nhau xây dựng một hệ tiêu chuẩn văn hóa – chính trị chung toàn cầu để vừa cạnh tranh vừa hợp tác hòa bình vì một thế giới ngày càng ổn định hơn trong tương lai.

Và việc nổ lực truyền bá văn hóa của đất nước mình là điều bất kỳ chính phủ nào cũng nên làm. Vấn đề chỉ là làm sao để có sự trao đổi văn hóa song phương và mọi quan hệ đều là hợp tác tương hỗ. Quản trị không đơn thuần là sức mạnh bạo lực, vì vậy, để có được quyền quản trị, không thể thiếu được cách cư xử mang tính đồng thuận, chấp nhận và góp phần của những kẻ bị trị. Riêng trên địa hạt văn hóa – tư tưởng, các học giả nghiên cứu về quản trị văn hóa đều cho rằng quản trị văn hóa, nếu được thực hiện, không thể thiếu sự đồng thuận một phần hoặc toàn thể của kẻ bị trị. Như thế, việc Trung Quốc tiến hành quản trị văn hóa thành công còn phụ thuộc cả vào cách cư xử của các nước bị trị, ở đây là Việt Nam. Điều đó nghĩa là Việt Nam cần có thái độ và ứng xử phù hợp. Chẳng hạn, ta nên có chính sách ngoại giao văn hóa,  trao đổi văn hóa song phương với Trung Quốc một cách tương xứng, phù hợp với điều kiện hiện nay.

Mai Cẩm Tú

Tài liệu tham khảo:

  1. 浅论言情小说对青年女性的心理射影 相关推荐 , 皖西学院学报, 2013
  2. 西南农业大学学报社会 , 语文天地 (高教.理论), 2015-03
  3. 江西青年职业学院学报, 齐鲁艺苑, 2017-04
  4. 文化霸权理论研究, 孙晶, 中国社会科学院青年学者文库, 2004-04
  5. 中国梦: 后美国时代的大国思维与战略定位, 刘明福, 2003
  6. 中国当代言情小说女性原型研究, 刘玉霞, 中国社会科学出版, 2011-11
  7. Toàn cầu hóa văn hóa địa phương và phát triển, Ths. Phan Ngọc Chiến, TS. Trương Thị Thu Hằng, BS. Nguyễn Kim Lộc dịch; GS.TS. Lương Văn Hy, TS Trương Huyền Chi, TS. Lê Minh Giang hiệu đính; Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM, quý 2, 2014.
  8. Bài phát biểu của Chủ tịch Tập Cận Bình tại kỳ họp Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc năm 2013.
  9. Số liệu dựa vào bài “Trung Quốc tăng cường trao đổi văn hóa” trên “China Daily”, Báo “Người đại biểu nhân dân”, 26-12-2006.
  10. Văn kiện đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 17, năm 2007.
  11. Toàn văn Báo cáo đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 19 năm 2017
  12. Bành Tân Lương, Ngoại giao văn hoá và sức mạnh mềm của Trung Quốc, Góc nhìn toàn cầu hoá, Nxb Bắc Kinh, 2008.
  13. Steven W. Mosher, China’s Plan to Dominate Asia and the World: Hegemon, San Francisco: Encounter Books, 2002.
  14. Joseph S. Nye, Soft Power: The Means to Success in World Politics, 2004.

Lĩnh vực quan tâm: Chính trị học, Xã hội học, Trung Quốc học.

Mai Cẩm Tú

Lĩnh vực quan tâm: Chính trị học, Xã hội học, Trung Quốc học.

Related Posts

Leave a reply