Tái tạo lịch sử Trung Quốc cho sự trỗi dậy hòa bình

Trung Quốc đang trỗi dậy và các nhà lãnh đạo của họ tuyên bố sẽ trỗi dậy trong hòa bình. Một lịch sử chung được chia sẻ có thể là động lực thúc đẩy sự liên kết giữa các công dân với nhau. Giáo sư Suisheng Zhao, giám đốc Trung tâm Hợp tác Trung Quốc – Hoa Kỳ của Trường nghiên cứu quốc tế Josef Korbel, Đại học Denver nhận định: “Một số nhà lãnh đạo dường như đã sử dụng sự kiện lịch sử có chọn lọc để phục vụ chính trị và những mục tiêu chiến lược”. Trong bài tiểu luận trên YaleGlobal, ông đã mô tả việc các nhà lãnh đạo Trung Quốc sử dụng lịch sử để thúc đẩy các chính sách đương đại: tin tưởng vào sự tái cấu trúc “toàn bộ thế giới dưới bầu trời” của đế chế Trung Hoa [Thiên triều Trung Hoa], được biết đến như là Thiên Hạ, với nhiều chính sách nhân từ hơn những kẻ thực dân phương Tây”. Zhao nhận định: “Một số học giả Trung Quốc đã đi xa đến mức biện luận rằng nguồn gốc của tất cả những rắc rối trong ngoại giao của Trung Quốc hiện nay là do Trung Quốc đánh mất cơ hội bành trướng bằng sự thông thái rởm và châm chú quá nhiều vào đạo đức và nguyên tắc”. Ông ấy lưu ý rằng trong lịch sử lâu đời của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo của quốc gia này không chỉ đặc biệt bạo lực mà còn phi nhân đạo. Chiến tranh đã dẫn đến cả sự phân chia lẫn sự mở rộng. Một tổng thể lịch sử, thay vì là một phiên bản lý tưởng hoá với những chi tiết chọn lọc, thì nên trở thành bảng chỉ dẫn khéo léo cho việc thực hiện các chính sách. – YaleGlobal

Sự tin cậy chỉ dựa vào những chi tiết lịch sử có chọn lọc của Trung Quốc và học thuyết “Thiên Hạ” không thể trấn an các nước láng giềng của nó.

DENVER: Một trong những lời khuyên thường được nhắc đi nhắc lại ở Trung Quốc là “sử dụng quá khứ để phục vụ hiện tại”. Hiện nay có một làn sóng những biện hộ của lịch sử Trung Quốc cho các chính sách quyết đoán của Trung Quốc, một trong số đó có thể nói là chính sách bành trướng. Nhưng sử dụng lịch sử một cách chọn lọc có thể chỉ là để phục vụ mục đích chính trị chứ không phải sự thông thái.

Những ký ức lịch sử là sức mạnh không những giúp liên kết người Trung Quốc lại với nhau và tạo thành bản sắc dân tộc của họ mà còn giúp thúc đẩy các nhà lãnh đạo Trung Quốc tìm những gì mà họ xem là vị thế chính đáng của Trung Quốc trên thế giới. Nhưng một số nhà lãnh đạo dường như đã sử dụng những ký ức lịch sử có chọn lọc để phục vụ các mục tiêu chính trị và chiến lược.

Hơn nửa thế kỷ sau khi thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tập trung truy niệm “nỗi nhục trăm năm” (century of humiliation)[1] nhằm xây dựng tính hợp pháp của chế độ hiện tại, thứ được dựa trên ủy nhiệm của chủ nghĩa dân tộc cho việc tống khứ quyền lực phong kiến ra khỏi đất nước Trung Quốc. Thái độ của họ đối với phong kiến Trung Quốc là sự mâu thuẫn trong tư tưởng vì nước này, giống như những quốc gia khác trên thế giới, đã mở rộng lãnh thổ rộng lớn dọc theo biên giới của nó và để lại những di sản phức tạp. Sự trỗi dậy của Trung Quốc vào thế kỷ 21 dẫn đến thái độ mới đối với các cường quốc. Các lãnh đạo Trung Quốc sẵn sàng chào mừng chiến thắng của đế chế phong kiến để khuyến khích lòng tự hào dân tộc và xác định lại vị trí của Trung Quốc trên thế giới. Những gì họ tán dương là một triều đại Trung Quốc được tái tạo như là trung tâm nhân đức của Đông Á, nhằm thúc đẩy chương trình nghị sự về sự trỗi dậy của Trung Quốc như là sự trở lại của một nhà nước hài hòa và để trấn an các nước láng giềng đang lo lắng về mối đe dọa ngày càng tăng của quốc gia này. Các nhà lãnh đạo nhấn mạnh rằng một Trung Quốc đầy sức mạnh có thể là một Trung Quốc hoà bình.

Các chủ đề khác nhau xuất hiện trong nghiên cứu lịch sử Trung Quốc.

Sự tái thiết: Tiếp nối khái niệm một thế giới hài hoà của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào bắt nguồn từ truyền thống triết học Trung Hoa, Chủ tịch Tập Cận Bình đã theo đuổi việc sử dụng lịch sử để giới thiệu các chính sách đối nội và đối ngoại của Trung Quốc. Ông ta đã nói rằng “kiểu gen” và “thừa hưởng tinh thần quốc gia”  giúp xác định “Trung Quốc là quốc gia yêu chuộng hoà bình”. Ông ta tiếp tục gợi ý rằng việc theo đuổi hoà bình và hoà hợp được bén rễ vững chắc trong tinh thần và máu huyết của người Trung Quốc, mặc dù hàng nghìn năm của lịch sử bạo lực lại kể một câu chuyện khác.

Trong khi đó, các học giả Trung Quốc đã tái tạo “Thiên Hạ” của đế chế Trung Hoa một cách nhân từ, dựa trên đức trị của hoàng đế, hoặc vương đạo. Allen Carlson trong Tạp chí Trung Quốc đương đại[2] nhận xét những câu từ này xuất hiện như một phương pháp phổ biến để chuyển tải thông điệp “nguyên tắc quy chuẩn của Trung Quốc trong quan hệ quốc tế tương phản với nguyên tắc chủ quyền và cấu trúc của tình trạng hỗn loạn quốc tế vốn dĩ đã tạo thành trung tâm của trật tự quốc tế đương đại.” Zhao Tingyang mô tả thuyết “Thiên Hạ” như là một hệ thống phổ quát được kế thừa từ triều đại nhà Chu khoảng 3.000 năm trước. Hệ thống này được duy trì bởi sức hút văn hoá và đức trị, được thể hiện trong lý tưởng hoà bình vĩnh cửu của Trung Quốc.

Các học giả cho rằng đức trị của đế vương là yếu tố then chốt đằng sau việc tạo ra và duy trì nền hoà bình vĩnh cửu. Nghiên cứu của Yan Xuetong xác định rằng các nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại đã khuyên các đế vương cai trị dựa vào đạo đức và luân lý để bình thiên hạ, và có thái độ phòng thủ bằng cách sử dụng chính phủ nhân từ để cai trị thế giới. Yan phân biệt ba loại đạo đức ở Trung Quốc cổ đại: đạo đức của đế vương [vương đạo] tập trung vào phương pháp hoà bình để thu phục cả trái tim và lý trí của tất cả mọi người trong nước và ở nước ngoài; Sự bạo ngược [Bá đạo], dựa trên sức mạnh quân sự, chắc chắn sẽ tạo ra kẻ thù. Đạo đức bá quyền (hegemonic ethics) nằm ở giữa – không quan tâm đến những gì thuộc về luân lý, nó thường liên quan đến bạo lực chống lại những kẻ không phải là đồng minh, nhưng không đánh lừa người trong nước hay đồng minh ở nước ngoài. Vương đạo được ưa thích hơn đạo đức bá quyền hay bá đạo.

So với các nước phương Tây đã sử dụng quyền lực cưỡng bức để xây dựng thuộc địa, thì trật tự thế giới do Trung Quốc xác lập mang tính dân sự hơn, đạt được sự ngưỡng mộ từ các nước lân bang mà không cần dùng vũ lực. Nhấn mạnh đến đức trị, nghi lễ, hoà bình và phủ nhận bản chất đế quốc, mối quan hệ giữa Trung Quốc và các vùng lân cận đã tiến bộ hơn nhiều so với chủ nghĩa thực dân của các nước phương Tây. Một số học giả Trung Quốc đã đi xa đến mức biện luận rằng nguồn gốc của tất cả những rắc rối trong ngoại giao của Trung Quốc hiện nay là do Trung Quốc đánh mất cơ hội bành trướng bằng sự thông thái rởm và châm chú quá nhiều vào đạo đức và nguyên tắc. Ông Haiyang Yu nhận định: “Các quốc gia lân cận nên biết ơn sự cai trị nhân từ của Trung Quốc, và trật tự của đế chế Trung Hoa nên được thiết lập lại, tuy nhiên họ không thích sự ôn hòa và sự tự kiềm chế như là một phần của truyền thống phong kiến”.

Các sự kiện lịch sử: Gần đây các học giả phương Tây cho thấy đế chế phong kiến Trung Quốc cũng giống như các bản sao của nó, không chỉ vô nhân đạo mà còn cực kỳ bạo lực. Nghiên cứu của Odd Arne Westad cho biết: “Sự xâm nhập nhà Thanh vào Trung Á là câu chuyện bi tráng của cuộc tranh giành dữ dội và, cuối cùng, là sự diệt chủng”. Sau khi đánh bại Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ [Zungharia][3], hoàng đế Càn Long đã ra lệnh cho quân đội ông ta phải giết nhóm người ưu tú Chuẩn Cát Nhĩ. Sau đó ông ta thâu tóm phần lớn phía đông Chuẩn Cát Nhĩ và một phần Mông Cổ kéo dài đến phần phía Nam vào Trung Quốc, tạo ra một khu vực mà Càn Long đã chiếm lấy với tên gọi là đường biên giới mới của Trung Quốc (Tân Cương)”.

Chiến tranh liên tiếp diễn ra ở Trung Quốc, thường là ở những vùng không có sự đoàn kết hoặc dưới hình thức xâm lược của ngoại bang. Trước triều đại  nhà Tần, Trung Quốc bị chia thành nhiều vương quốc nhỏ gây chiến tranh lẫn nhau để giữ thăng bằng quyền lực. Sau khi vua Tần thống nhất và thành lập triều đại phong kiến đầu tiên, phạm vi địa lý và sức mạnh quân sự của đế chế Trung Quốc ngày càng mở rộng. Nhà cầm quyền Trung Quốc trong triều đại nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt đã mở rộng đế chế bằng các cuộc viễn chinh, đi qua Trung Á, Miến Điện và Việt Nam. Triều đại Trung Quốc cuối cùng là nhà Thanh, cũng đã mở rộng quy mô lãnh thổ chưa từng có, gần gấp đôi diện tích đất đai tính từ triều đại nhà Minh và chủ yếu thông qua lực lượng quân sự.

Từ quan điểm này, Peter Perdue lập luận rằng những thủ thuật được sử dụng bởi nhà Minh và nhà Thanh để chính đáng hoá sự cai trị của họ đối với mọi thần dân và yêu cầu một vị trí cao hơn các đối thủ không hoàn toàn khác với những  nước đế quốc. Đưa ra những nghiên cứu lịch sử so sánh cho thấy sự tương đồng đáng kể của triều đại nhà Minh và nhà Thanh với sự hình thành các đế chế như Nga, Mughal[4] và Ottoman[5], hay ngay cả đối với nước Pháp hiện đại thời kỳ đầu, Perdue cho rằng khái niệm “chủ nghĩa thực dân” có thể có ích cho việc mô tả các chính sách do nhà Thanh thực hiện.

Các hoàng đế Trung Quốc đã phải sử dụng quân đội để bảo vệ và mở rộng đế chế vì các khu vực lãnh thổ của nó được xác định một cách lỏng lẻo bằng các nguyên tắc văn hoá, mà không phải lúc nào cũng được các nước láng giềng chấp nhận. Theo đuổi chính sách hợp nhất và mở rộng, bất kể khi nào nhà nước phong kiến Trung Quốc mạnh lên, nó lại cố gắng mở rộng biên giới bằng cách tuyên bố quyền bá chủ đối với các nước láng giềng nhỏ hơn. Tuy nhiên, chính sách bành trướng này thường gặp phải sự phản kháng. Đế quốc Trung Hoa không hề lo ngại về việc xâm lược bằng quân sự.

Ngoài ra, đế chế Trung Hoa triển khai nhiều công cụ khác nhau để thuyết phục và ép buộc, trong đó có cả nghệ thuật chính trị hoặc sử dụng một nước láng giềng để chống lại một nước láng giềng khác, ban thưởng cho những người vâng lời và trừng trị những kẻ bướng bỉnh. Những biện pháp như vậy thường được sử dụng khi đế chế đã thống nhất và hùng mạnh. Khi đế chế yếu đi và chia rẽ, các nước láng giềng lần lượt chinh phục nó. Do đó, Binh phápcủa Tôn Tử đã được viết trong bối cảnh, như phân tích của Kevin Rudd, là chiến tranh thường xuyên diễn ra: “Phần lớn công việc của Tôn Tử là làm sao để thắng thế trong cuộc chiến chống lại các quốc gia khác hoặc lân bang bằng biện pháp phi quân sự hoặc quân sự. Chấp nhận sự cô lập, nó có thể được diễn giải với ý nghĩa rằng xung đột và chiến tranh là điều đương nhiên và không thể tránh khỏi của nhân loại.”

Không có gì sai khi tìm hiểu quá khứ của Trung Quốc nhằm hiểu được tương lai của Trung Quốc. Nhưng giới trí thức Trung Quốc và các nhà lãnh đạo chính trị đang tham gia vào việc ghi nhớ có chọn lọc, thường xuyên tái tạo lịch sử nhằm thúc đẩy chương trình nghị sự chính trị của chính phủ và biện minh cho khái niệm công lý và tầm nhìn về vị thế đích thực của Trung Quốc trên thế giới.

Do đó, các bài luận về lịch sử trở nên bị chính trị hóa ở Trung Quốc. Vì thế, tầng lớp tinh hoa Trung Quốc thường vạch ra những chương trình nghị sự mâu thuẫn với những nghiên cứu lịch sử. Một mặt, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đưa ra một phiên bản lý tưởng hoá của Trung Quốc để ủng hộ các tuyên bố về sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc, và mặt khác, dùng những bài học bảo rằng sự sụp đổ của đế chế Trung Hoa là vì sức mạnh của nó không đủ để bảo vệ sự tồn tại của nó. Nhóm tinh hoa Trung Quốc kêu gọi quốc gia này hãy tuân theo quy luật sinh tồn, với những kẻ yếu nhất sẽ bị loại bỏ, để trở thành kẻ mạnh nhất một lần nữa.

Việc tái tạo đế chế phong kiến Trung Hoa nhằm thúc đẩy chương trình nghị sự đương đại về sự trỗi dậy hòa bình của nó, mỉa mai thay, đã tạo ra một chương trình nghị sự của thế kỷ 19 nhưng đặt vào Trung Quốc của thế kỷ 21, mục đích là khôi phục lại hệ thống cấp bậc trong khu vực và tối đa hoá an ninh bằng cách mở rộng ảnh hưởng và kiểm soát các khu vực lân cận.

Suisheng Zhao là giáo sư và giám đốc Trung tâm Hợp tác Trung Quốc-Hoa Kỳ ở Trường nghiên cứu quốc tế Josef Korbel, Đại học Denver, và là tổng biên tập Tạp chí Trung Quốc đương đại.

Suisheng Zhao

Nguyễn Cường Thịnh dịch theo YaleGlobal Online

 

[1] Century of humiliation: Bách niên quốc sỉ hay nỗi nhục trăm năm là một khái niệm sử học được dùng trong lịch sử Trung Quốc để nói về giai đoạn các cường quốc châu Âu, Hoa Kỳ và đế quốc Nhật Bản can thiệp vào Trung Quốc trong khoảng thời gian 1839-1949.

[2] Tạp chí Trung Quốc đương đại ( Journal of Contemporary China) là tạp chí học thuật có góc nhìn đa ngành về các sự kiện của Trung Quốc đương đại, bao gồm chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hóa, chính sách đối ngoại.

[3] Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ (Zungharia) là đế quốc du mục trên thảo nguyên châu Á được thành lập vào thế kỷ 17 và bị nhà Thanh sáp nhập vào năm 1756.

[4] Mughal (còn gọi là Moghul hoặc Mongol) là một đế quốc theo đạo Hồi ở Tiểu lục địa Ấn Độ, được thành lập vào năm 1526 và kết thúc vào năm 1858.

[5] Ottoman (còn được gọi là đế chế Thổ Nhĩ Kỳ) là một đế quốc được thành lập ở miền tây Tiểu Á, ra đời vào cuối thế kỷ 13 và kéo dài đến đầu thế kỷ 20.

Suisheng Zhao là giáo sư và giám đốc Trung tâm Hợp tác Trung Quốc-Hoa Kỳ ở Trường nghiên cứu quốc tế Josef Korbel, Đại học Denver, và là tổng biên tập Tạp chí Trung Quốc đương đại.

Xã hội học, Trung Quốc học, Nhân học, Lịch sử