Tags

Related Posts

Share This

“Phải trái, đúng sai?” và việc đúng nên làm

Trong quyển sách Phải trái đúng sai, Michael Sandel đã nêu ra một tình huống có thật ở Hoa Kỳ. Đó là vào năm 2004, sau khi siêu bão Charley quét qua bang Florida, cơn bão này đã dẫn đến tình trạng giá cắt cổ hay nói như cái tít của tờ US Today “Kền kền sau bão”, họ tăng giá các dịch vụ cấp thiết như dọn dẹp cây ngã, cho thuê phòng trọ đến mức ngất ngưởng.

Sự kiện trên dẫn đến một vấn đề. Đó là có nên ban hành luật chống bán phá giá hay không? Điều này có liên quan đến quan niệm về công lý và liên quan đến những góc độ như: tối đa hóa phúc lợi, tôn trọng tự do và đề cao đạo đức.

  • Lý lẽ ủng hộ thị trường tự do chống lại đạo luật chống bán phá giá xuất phát từ hai yếu tố: phúc lợi và tự do. Cho rằng thị trường thúc đẩy phúc lợi xã hội, mọi người sẽ làm việc chăm chỉ, tạo ra hàng hóa mà người khác muốn (tuy nhiên, nó đã đánh đồng phúc lợi với kinh tế, trong khi phúc lợi bao gồm cả các yếu tố phi kinh tế). Thị trường cũng tôn trọng tự do cá nhân, mọi người được tự do lựa chọn giá trị trao đổi (cho nên không được áp đặt luật lên giá cả vì sẽ làm mất tự do và phúc lợi xã hội).
  • Lý lẽ ủng hộ luật chống bán phá giá cho rằng phúc lợi xã hội không được đảm bảo vì bán giá quá cao trong thời kỳ khó khăn sẽ dẫn đến nỗi đau khổ của những người có hoàn cảnh khó khăn không thể chi trả tiền cho các dịch vụ cấp thiết. Trong những điều kiện nhất định, thị trường tự do không hẳn là tự do vì họ buộc phải trả tiền cho những dịch vụ vô cùng cần thiết và nó không phụ thuộc vào việc tự do lựa chọn giá cả trao đổi của họ.
  • Những quan điểm khác: cho rằng ban hành luật trên cũng không đẩy nhanh tốc độ phục hổi của Florida, hay cho rằng bọn “kền kền”(tức những nhà cung cấp) có tính tham lam trắng trợn nên cần phải bị trừng phạt, một số cho rằng phải “sửa chữa mái nhà trước và kết cấu xã hội sau”,…

Tuy nhiên những tranh luận trên sẽ đặt ra các câu hỏi cần được xem xét và giải quyết như: “Ở mức độ nào mọi người tự do hơn là bị cưỡng ép?”, “Điều gì là đạo đức và điều gì là xấu xa?”, “Có nên đặt các phán xét đạo đức vào pháp luật?”,…

Và có những câu hỏi liên quan đến triết học chính trị sẽ theo đó nảy sinh: Một xã hội công bằng có nên tìm cách thúc đẩy đạo đức công dân hay không? Hay pháp luật có nên giữ vai trò trung lập để mọi người tự lựa chọn cho mình lối sống tốt nhất?

Có hai luồng tư tưởng:

  • Aristole là một triết gia cổ đại cho rằng “công lý có nghĩa là cho mọi người những gì họ xứng đáng có được”. Xã hội phải tìm ra cách sống tốt đẹp nhất để được tán dương và pháp luật không được trung lập với điều này (bắt đầu bằng đạo đức).
  • Các triết gia chính trị hiện đại lại có quan điểm khác: các nguyên tắc công lý không dựa trên bất cứ quan điểm nào về đạo đức hay lối sống tốt nhất, mà thay vào đó là phải công bằng, tôn trọng quyền tự do lựa chọn quan điểm sống của bất kỳ công dân nào (bắt đầu bằng tự do).

Michael Sandel phát hiện ra rằng bên dưới những lập luận về phúc lợi và tự do là sự xung đột niềm tin về những đức tính mà một xã hội tốt đẹp nên khuyến khích. Và “khi nghĩ về công lý không thể không nghĩ về cách sống tốt nhất”.

Xem xét một cách tổng quát và ta có thể nhận thấy công lý được tiếp cận qua ba phương pháp: phúc lợi, tự do và đạo đức.

  • Cách tiếp cận về phúc lợi liên quan đến một học thuyết cho rằng “chúng ta nên tối đã hóa phúc lợi hay tìm kiếm hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất”, đó chính là thuyết vị lợi.
  • Cách tiếp cận thứ hai là học thuyết kết nối công lý với tự do: tôn trọng tự do và các quyền cá nhân (các quyền phổ quát của con người).
  • Cách tiếp cận thứ ba là học thuyết coi công lý gắn với đạo đức và lối sống tốt đẹp.

Việc tranh luận giữa các phe ủng hộ và chống đối trong công luận liên quan đến tư tưởng của họ, và đôi khi bất đồng phát sinh giữa cá nhân, và rồi chính họ hoặc bị giằng xé hoặc mâu thuẫn về một vấn đề đạo đức khó khăn. Cho nên một câu hỏi lớn được đặt ra đó là “Lý giải đạo đức bao gồm những điều gì?” Đó là quá trình đi từ những phán xét trong những tình huống cụ thể đến với những nguyên tắc công lý mà chúng ta tin rằng nên áp dụng cho tất cả mọi tình huống.

Tác giả Michael Sandel đưa ra một giả thuyết triết học có tên là “Xe điện đứt phanh”.

Phiên bản một: Xe điện mất phanh và cuối đường ray có năm người công nhân (họ nhất định sẽ chết nếu bị xe điện đâm phải), nhưng đường rẽ bên phải có một người công nhân (theo lộ trình chính thức xe điện không qua đó). Nhưng trường hợp này người lái sẽ quyết định rẽ hay không rẽ? Đa số mọi người trong trường hợp này sẽ chọn rẽ để đổi một mạng người để cứu sống năm mạng người (đây là việc đúng phải làm).

Phiên bản hai: Lần này bạn không là người lái xe điện mà đứng trên cầu nhìn xuống thấy xe điện đứt phanh sắp đâm chết năm người công nhân, bên cạnh bạn là một ông béo và theo nguyên tắc giết một người cứu năm người thì bạn sẽ đẩy ông mập xuống để chắn đường ray không cho xe điện đâm vào năm người công  nhân (còn bạn thì quá gầy, không thể tự mình nhảy xuống). Vậy đây có phải việc đúng nên làm? Hầu hết mọi người đều không đồng ý, cho là sai trái.

Và vấn đề bắt đầu nảy sinh: Tại sao nguyên tắc dường như đúng trong trường hợp thứ nhất lại không thể áp dụng chúng trong trường hợp thứ hai?

Có hai niềm tin đạo đức mâu thuẫn trong tình huống này là: cứu càng nhiều mạng sống càng tốt và giết một người vô tôi là sai trái ngay cả khi có lý do chính đáng. Vấn đề khó khăn thật sự trong thực tế là ta không biết được diễn biến của tương lai sẽ diễn ra như thế nào.

Trong tình huống có thật của người chăn dê Afghanistan, hạ sĩ quan Luttrell không biết trước được người chăn dê có phải là cảm tình viên của Taliban hay không, và trong thực tế cuộc sống cũng tồn tại vô số những vấn đề đạo đức khó khăn như thế như việc phá thai (đúng hay không đúng), đánh thuế người giàu giúp người nghèo (đúng hay không đúng),… Những quan điểm về các vấn đề này sẽ tác động đến kết quả bầu cử trong chính trị, những tranh luận như thế được gọi là “chiến tranh văn hóa”.

Niềm tin đạo đức không phải đức tin hay thứ giáo điều cố định nằm ngoài lý trí. Chúng ta phải tìm ra con đường dẫn đến những lựa chọn của mình qua các sự đối lập về công lý và bất công, bình đẳng và bất bình đẳng, quyền cá nhân và công ích.

Những phán xét đạo đức ban đầu diễn ra một cách tự nhiên khi gặp các vấn đề khó khăn bằng những nguyên tắc nhất định sau khi gặp một tình huống khác mâu thuẫn với tình huống ban đầu sẽ khiến ta ngờ vực về chính nguyên tắc mà mình đề ra trong trường hợp một. Chính sự ngờ vực về những nguyên tắc khiên ta phải sắp xếp lại suy nghĩ (phản tỉnh – phản tư), nó cũng là động lực của triết học.

Ta phải luôn trở lui giữa các phán xét và nguyên tắc của mình, xem lại từng thứ trong mối tương quan giữa sự biến đổi giữa thế giới hành động và địa hạt của sự suy lý và ngược lại. Đó chính là mục đích của suy ngẫm đạo đức.

Các lập luận đạo đức này bắt đầu từ mối quan hệ biện chứng giữa phán xét trong tình huống cụ thể và nguyên tắc suy nghĩ của chúng ta. Những đối thoại Socrates và triết lý đạo đức của Aristole là nhằm mục tiêu tìm kiếm sự nhất quán giữa chúng nhưng làm thế nào để suy nghĩ đạo đức đưa đến chân lý đạo đức và công lý. Và nếu chúng khớp với nhau thì liệu có phải là một mớ thành kiến nhất quán với nhau? Cho nên suy ngẫm đạo đức phải là một sự cố gắng của đại chúng chứ không phải là nỗ lực đơn độc. Nó phải được đối thoại với mọi người chứ không thể chỉ thông qua việc tự xem xét nội tâm.

Quan điểm của Plato là để nắm bắt được ý nghĩa của công lý và bản chất của lối sống tốt đẹp để giúp chúng ta vượt lên các thành kiến và thói quen trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên theo Michael Sandel nó cần phải có thêm ý kiến và niềm tin của mỗi cá nhân.

Cuốn sách này đề cập đến các triết gia chính trị: Aristole, Immanuel Kant, John Stuart Mill và John Rawls. Đó là một hành trình suy ngẫm đạo đức và chính trị, là lời mời gọi độc giả hãy có suy nghĩ phản tỉnh về công lý và sự xem xét mang tính phê bình của mình, xác định mình nghĩ gì và tại sao lại như thế.

Nguyễn Cường Thịnh

Xã hội học, Trung Quốc học, Nhân học, Lịch sử