Mối quan hệ giữa người Thượng và bên ngoài

Cần nhấn mạnh rằng văn hóa giữa vùng đồng bằng và vùng cao thường được hiểu là có sự khác biệt và đó là kết quả của sự nhận thức sai lầm về văn hóa vùng cao, sự khác biệt ở đây không phải là sự khác biệt tuyệt đối, cũng không phải nói rằng đồng bằng và vùng cao đối lập về mặt tự nhiên với nhau như cách hiểu của nhiều người bên ngoài. Điều này không có nghĩa là không có sự liên lạc hay giao thương với nhau. Thực tế rằng, đồng bằng đã có những nỗ lực hoặc đã không thành công trong việc áp đặt trật tự chính trị lên vùng cao, và vùng cao đóng một vai trò trong các nghi lễ của vương triều[1]  ở đồng bằng. Quan trọng hơn là việc giao thương đã liên kết vùng cao và đồng bằng cũng giống như là mạng lưới giao dịch mang tính quốc tế vậy. Bằng chứng cho thấy danh sách sản vật đều từ rừng như là ngà voi, sừng tê giác, sáp ong, lô hội, trầm hương, quế, được xuất khẩu sang vùng đồng bằng – việc này được ghi lại trong báo cáo trước đây của công ty Hà Lan – Đông Ấn về lục địa Đông Nam Á. Đồng thời thấy rõ là nhiều mặt hàng được nhập khẩu như cồng chiêng từ Miến Điện và chai lọ từ Trung Quốc, nhưng đặc biệt là muối biển, một sự cần thiết cho sự nhu cầu sinh hoạt của vùng cao nguyên.

Dù có những quan niệm từ lâu về sự đối kháng giữa các triều đại ở đồng bằng với vùng cao khi họ đòi quyền tự chủ thực sự, thì chính điều này đã tạo một lịch sử phong phú về sự va chạm chính trị. Cho đến khi thất bại bởi người Việt thì Champa trước đó đã là một nhà nước Hindu có sức mạnh lớn ở khu vực Đông Dương này kéo dài đến vùng biển miền Trung Việt Nam, và duy trì một sự hiện diện ảnh hưởng đến các tiểu quốc như Panduranga (Phan Rang) và Kauthara vào thế kỷ 18, nơi này hiện nay chính là Ninh Thuận, Bình Thuận và Khánh Hòa. Tuy nhiên, trong nhiều thể kỷ thì Champa không chỉ bao gồm các vùng đồng bằng mà còn có một bộ phận Tây Nguyên – Jacques Dournes từng gọi đó là “Haut – Champa” [2]. Xung quanh khu vực Tây Nguyên vẫn còn nhiều phế tích từ nhiều thế kỷ trước, tượng và các di tích của người Chăm hiện diện quanh khu vực Kon Klor và Kodo/Bomong Yang (gần Kontum); Yang mum (gần Ayun Pa hiện nay ở tỉnh Gia Lai), Bắc Yang Prong của Bản Đôn tại Đak Lak gần ranh giới Campuchia và có một thứ gọi là “kho báu” của những vị hoàng tử người Chăm giữa người Churu và nhóm người Raglai ở Lâm Đồng cho đến hiện nay (Dournes 1970; Hickey 1982a:91-107). Aymonier (1890a), Leclère (1904), Maitre (1921a), Bourotte (1955), Boublet (1967) và Hickey (1982a) đã ghi chép lại những huyền thoại này giữa người Thượng và các lãnh chúa người Chăm của họ.

Khi người Việt thay thế người Chăm như là người cai trị ở đồng bằng, họ nhanh chóng kiểm soát người dân ở đây thông qua quá trình cai trị có tính hệ thống bằng việc thành lập quân sự đồn trú nơi này, đồn điền. Tuy nhiên, họ đã không mạo hiểm can thiệp quá sâu vào Tây Nguyên như người Chăm, và họ không cố gắng nỗ lực kiểm soát hoàn toàn Tây Nguyên. Nhưng khi Việt Nam được thống nhất bởi Hoàng đế Gia Long vào năm 1802 dưới triều Nguyễn, đã có những hành động nỗ lực bình định Tây Nguyên. Một bằng chứng cho thấy điều đó chính là “Sơn Phòng” [3] một hệ thống phòng thủ vùng núi, bắt đầu xây dựng vào năm 1863 dưới thời Hoàng đế Tự Đức bởi vị quan Nguyễn Tấn[4], điều này ông ấy đã ghi chép vào cuốn sách binh pháp của mình vào năm 1871 khi giữ chức Lễ Tiễu Phủ Sứ (cuốn này sau đó được xuất bản ở Pháp vào năm 1904). Sơn Phòng tiếp tục kế hoạch bình định các vùng núi Việt Nam kéo dài đến thế kỷ 18 – kết hợp bằng sự hiện diện quân sự ở những nơi chiến lược và sự sáp nhập chính trị là các thủ lĩnh ở các khu vực tại vùng núi vào chính quyền Việt Nam, cùng với việc thiết lập giao thương độc quyền và thu thuế tại đây. Những thủ lĩnh ở các khu vực tại vùng núi luôn được tôn trọng, đôi khi chính họ còn tạo điều kiện cho việc thu thập về các thông tin dân tộc học và địa lý nơi này. Sự giao thương bị giám sát và độc quyền, luôn bị đánh thuế bởi chính quyền bao gồm vât phẩm thiết yếu mà người ở Tây Nguyên rất cần (như là muối), hay như là với những sản phẩm có giá trị cao như quế chẳng hạn (Lễ Tiễu Phủ Sứ 1904, Hickey 1982a:182-4). Nhưng theo nguồn tin của Pháp thì vào cuối thế kỷ 19 Sơn Phòng đã biến thành một hệ thống tham nhũng và lừa đảo được hợp pháp hóa, tạo ra tình trạng bất ổn đối với dân cư tại Tây Nguyên. Vào năm 1898 thì Pháp bắt đầu tháo dỡ Sơn Phòng khi họ đặt sự bảo hộ lên Annam (Aymonier 1885, Breiere 1890, Durand 1907).

Việc triều cống của Jarai P’tau Apui (“Vua Lửa”) và P’tau Ia (“Vua Nước”)[5] để duy trì mối quan hệ đối với triều đình Phnom Penh và Huế là một bằng chứng nữa. Hai “vị vua” này có sức mạnh của vị pháp sự trong đời sống tin ngưỡng và lễ nghi đã được cộng đồng xung quanh chấp nhận, bao gồm vương triều ở đồng bằng, do nghĩ rằng hai người ấy có một vai trò chính trị quan trọng nào đó dù họ không phải là người điều hành xã hội. Hai “vị vua” này được đề cập trong nhiều tài liệu sử của người Việt và những ghi chép về Hỏa Xá và Thủy Xá như là vị vương tử của một “nhà nước Hỏa xá” và “nhà nước Thủy xá” nhỏ bé, khi họ phải trao đổi tặng phẩm với chúa Nguyễn ở Nam Việt Nam trước khi nhà Tây Sơn khởi nghĩa (1771 – 1802), còn một ghi chép rất thú vị vào năm 1820 dưới thời của vị Hoàng đế thứ hai là Minh Mạng (Minh Mệnh), một “mối quan hệ ngoại giao” giữa “Vua Nước” và triều đình Việt Nam đã được tái thiệp lập lại bằng sự cống nạp và trao đổi những sản vật như ngà voi, gồ đàn hương, và sản vật khác từ rừng. Vào năm 1831, một sự cống nạp cứ ba năm một lần của hai “vị vua” chư hầu người Jarai đối với triều đình được diễn ra ở tỉnh Phú Yên, cùng với sự đáp lại của Hoàng đế là các tặng phẩm như áo quần hay các mặt hàng có giá trị. Việc trao đổi tặng phẩm này tiếp tục đến đời Thiệu Trị và Tự Đức cho đến khi người Pháp nắm quyền quản lý các mối quan hệ ngoại giao giữa triều đình Huế và Tây Nguyên (Nghiem Tham and Voth 1972; Dournes 1977:109-22; Hickey 1982a:121-89).

Hai bằng chứng trên (và còn nhiều bằng chứng khác) đã cho chúng ta thấy rằng mối quan hệ sâu sắc về kinh tế, chính trị và văn hóa giữa người Thượng và chính quyền Việt Nam trước thời kỳ thuộc địa. Khi Annam (Trung Bộ), Tonkin (Bắc Bộ) đã được người Pháp bảo hộ năm 1883, hệ thống hành chính của người Việt bị sụp đổ trong nhiều nơi, trước hết là ở những khu vực Tây Nguyên nơi sự kiểm soát của họ giờ rất là yếu. Một sĩ quan hải quân Pháp là Amédéde Gautier đã phát hiện ra phía Bắc Conchinchina (Nam Bộ) vào năm 1882 một sự giao lưu của thủ lĩnh nơi này là người Lào, Việt Nam, và Hoa sống chung với người Thượng, vẫn duy trì cơ sở hạ tầng hành chính thô sơ đã từng xây dựng trong quá khứ (Gautier 1882, 1884, 1935, Maitre 1912a: 463-4; Dubourg 1950). Khi người Pháp dần mất quyền kiểm soát Đông Dương, họ đã cố gắng chia tách đồng bằng và Tây Nguyên trong nhiều năm sau đó nhưng nỗ lực của họ không bao giờ thành công. Đã có nhiều trường hợp, những lực lượng khởi nghĩa người Việt đã ẩn náu và tìm sự hỗ trợ từ Tây Nguyên, bắt đầu là khởi nghĩa Tây Sơn cho đến phong trào Cần Vương trong thời gian đầu của chế độ thực dân Pháp, tiếp đó là Việt Minh và quân du kích Mặt trận giải phóng chống Pháp và người Mĩ. Những điều này đã được ghi chép lại bằng sự tiếp xúc thông qua giao dịch, trao đổi và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa đồng bằng và Tây Nguyên trước thời kỳ thuộc địa, điều trên đã đập tan quan niệm phổ biến là Tây Nguyên là nơi “hoàn toàn biệt lập” và “bị cô lập” bởi các nền văn minh chính thống.

Oscar Salemink

Hưng Thịnh dịch trong cuốn ” The Ethnography of Vietnam’s Central Highlanders: A historical contextualization, 1850 -1900″

Oscar Salemink là Giáo sư về Nhân học châu Á của Đại học Copenhagen, Đan Mạch. Cho đến tháng 2 năm 2011, tác giả là Giáo sư Nhân học Xã hội tại Đại học VU ở Amsterdam. Từ cuối những năm thập niên 1980, tác giả đã nghiên cứu ở Đông Nam Á nhất là Việt Nam. Ông còn từng là đại diện của quỹ Ford ở Việt Nam

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A.Leclère. 1904. Légende Djaray sur I’origine du sabre sacré par le roi du feu. s.l. : Revue Indochinoise II, 1904. pp. 366-9.

Aymonier, Étienne. Une mission en Indo-Chine (relation sommaire). s.l. : Bulletin de la Sociéte de Géographie de Paris XII. pp. 216-49, 399-74.

B.Bourotte. Essai d’histoire des populations montagnardes du Sud Indochinois jusqu’à 1945. s.l. : Bulletin de la Socité dé Etudes Indochinoises XXX. pp. 17-116.

Boulbet, Jean. 1967. Pays de Mâ’, domaine des génies (Nggar Maa’, nggar yaang). Essai d’ethn-histoire d’une population proto – indochinoise du Viet Nam central. Paris : EFEO, 1967.

Brière, M. 1890. Notice sur les Moi du Binh Thuan et du Khanh Hoa. s.l. : Excursions et Reconnaissances XIV (32), 1890. pp. 235-54.

Dournes, Jacques. 1977. Potao: Une Theorie de pouvoir chez les Indochinois Jorai. Paris : Flammarion, 1977.

—. 1970. Rêchrches sủ le Haut – Champa. s.l. : France – Asie 24 (2), 1970. pp. 143 – 162.

Dubourg, M. 1950. Use tentative de colonisation en pays Moi: la mission A.Gautier, 1881 – 1883. s.l. : Revue d’ Historie des Colonies XXXVII, 1950. pp. 101-38.

E.Durrand. 1907. Les moy du Son Phong. s.l. : Revue Indochinoise VI, 1907. pp. 1055-68, 1158-71.

Gautier, Amédée. Exploration de M.A.Gautier au Nord de la Cochinchine. Extraits de des lettres. s.l. : Bulletin de la Societe Acdemiqe Indochinoise II. pp. 411-25.

—. 1884. Les Moi. s.l. : Bulletin de la Société de la Société de Géographie de Rochefort VI, 1884. pp. 482-40.

—. 1935. Voyage au Pays des Mois accompli par A. Gautier, Lieutenant de I’Infanterie de Marine . Saigon: Gouvernement de la Cochinchine : s.n., 1935.

Hickey, Gerald C. Sons of the Mountains: Ethnohistory of Vietnamese Central Highlands to 1954. New Heaven, CT/London : Yale University Press.

Lê – Tiêu – Phu, Su. 1905 or 1871. Phu man tap luc, la pacification de la région des Moi. s.l. : Revue Indochinoise II, 1905 or 1871. pp. 455 – 796.

Maitre, Henri. 1912. Les Jungles Moi: Mission Henri Maitre (1909 – 1911). Paris : Indochine Sud – Centrale, 1912.

Nghiem Tham and Donald Voth . 1972. Seeking to Understand the Highland People: The two tribal kingdoms of the Vietnamese court in the past, the King of Fire and the King of Water. s.l. : Southeast Asia 1, 1972. p. 355.

 

Chú thích:

[1] nghi lễ của vương triều (court ritual): Ở đây chúng tôi hiểu rằng là việc cống nộp giữa Tây Nguyên và đồng bằng – ND

[2] “Haut – Champa”: Từ “Haut” mà Jacques Dournes dùng là từ tiếng Pháp nhằm thể hiện ý nghĩa “phía trên”, “trên cao”. Ở đây Jacques Dournes ám chỉ một bộ phận lãnh thổ của Champa nằm ở trên cao, đó chính là một phần Tây Nguyên.

[3] Sơn Phòng: Xem thêm về “Trường lũy Quãng Ngãi” . Xem thêm: https://goo.gl/W2oYtG

[4] Nguyễn Tấn (1822 – 1871) sinh ra tỉnh Quảng Ngãi, là một võ tướng thời nhà Nguyễn giữ chức Tiễu Phủ Sứ (1863 – 1871). Người có công ổn định tình hình bất ổn tại vùng sơn cước. Công trình của ông là “Vũ man tạp lục thư” là một tác phẩm viết bằng chữ Hán về mối quan hệ giữa vùng núi và đồng bằng từ địa lý, văn hóa đến chính trị tại đây và các công cuộc dẹp loạn tại vùng núi. Xem thêm: https://goo.gl/k1c6Pj

[5] Vua Lửa”, “Vua Nước” được để trong ngoặc kép là cách gọi (cách nhìn) của vương triều đồng bằng đối với các vị pháp sư (shaman) của người Jarai, vì họ có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh tính ngưỡng của người Jarai và các nhóm dân tộc khác xung quanh, chứ trong tư duy và nhận thức của người Thượng không phải xem họ là “vua”. Xem thêm: Potao: Một lý thuyết về quyền lực ở người Jorai Đông Dương – Jacques Dournes, Nguyên Ngọc dịch, NXB Tri Thức 2013.

 

Lĩnh vực quan tâm Nhân học đô thị, Nhân học biểu tượng.