Lưu dân Việt làm nghề làm móng[1]: Làm thế nào sự cắt sửa móng lại trở thành kinh nghiệm nhập cư của người Việt Nam tại Hoa Kỳ?

Lưu dân Việt làm nghề làm móng[1]: Làm thế nào sự cắt sửa móng lại trở thành kinh nghiệm nhập cư của người Việt Nam tại Hoa Kỳ?

Ảnh: Elizabeth Brockway/The Daily Beast

Đối với việc di chuyển sang những thị trấn nhỏ, những nơi ít gặp phải cạnh tranh trong chuyện làm ăn về nghề làm móng, người Việt có một thuật ngữ: Làm móng xuyên bang (Doing nails across states).

Chẳng có gì ngạc nhiên nếu bạn đi trên con phố chính (Main Street) lịch sử của trung tâm thị trấn Điểm Tây (West Point), Virginia, và không nhìn thấy mặt tiền khiêm tốn của cửa tiệm số 815. Không hề có bảng hiệu hào nhoáng hay mái hiên gây ấn tượng nào. Chỉ có mỗi cái tên “Những chiếc móng mộc mạc” (Simply Nails) được viết bằng phông chữ nhỏ màu trắng nằm ở một góc trên cửa sổ. Bên trong, 4 thợ làm móng người Việt đang làm móng cho khách hàng.

Họ là những cư dân châu Á duy nhất trong thị trấn bình lặng gồm 3.000 người này, nằm giữa hai con sông Pamunkey và Mattaponi, cách bãi biển Virginia 129km về phía bắc.

Theo như lời của Havy Nguyen[2] thì: “Ở Điểm Tây hầu hết là người da trắng.” Hanh Nguyen là con gái của chủ tiệm Những chiếc móng mộc mạc, Huong Nguyen. Cô làm việc bán thời gian ở cửa tiệm nhà mình trong khi hoàn thành cao đẳng. Gia đình cô đã chuyển đến sống ở thị trấn này vào năm 1994. “Một người bạn của ba mẹ tôi cho biết là ở Điểm Tây có những ngôi trường tốt.” Thêm nữa, cô cho biết, là ở đây không có tiệm làm móng nào và như vậy mẹ cô sẽ không phải cạnh tranh nhiều khi mở tiệm.

Những chiếc móng mộc mạc không phải là trường hợp duy nhất. Suốt 2 thập niên qua, những cửa tiệm làm móng do người Việt làm chủ đã trở thành một bộ phận có mặt ở khắp mọi nơi trong bức tranh về ngành bán lẻ của nước Mỹ. Từ năm 2015, có khoảng 130.000 tiệm làm móng ở Hoa Kỳ, theo tạp chí Móng (Nails magazine), một ấn phẩm hàng đầu của ngành công nghiệp này. Theo tạp chí Móng, hơn 50% thợ làm móng làm trong các tiệm này là người Việt Nam. Ở California, trung tâm của cộng đồng người Việt Nam hải ngoại, con số là gần 80%.

Đây là một ví dụ đáng chú ý về việc mạnh dạn khởi nghiệp, đặc biệt là với nhóm người tới đất nước này dưới tư cách là người tị nạn sau kết thúc cuộc Chiến tranh Việt Nam. Khi sự cạnh tranh và bão hòa gia tăng đã thúc đẩy ngày càng nhiều thợ làm móng người Việt đi tìm việc làm ở những thị trấn nhỏ, kết quả nó đưa đến là hình thành một dạng lưu dân làm nghề làm móng, tức những gia đình người Việt Nam phân tán và định cư ở những góc nẻo không ai ngờ đến nhất trên đất Mỹ, những nơi mà thường chỉ có mỗi họ là dân châu Á. Ví dụ, ngày nay ta có thể cắt sửa móng tay tại một thẩm mỹ viện của người Việt ở Minot, Bắc Dakota, Texas, hay Beaufort, Nam Carolina.

Hoan Nguyen cho biết: “Có quá nhiều tiệm làm móng ở California.” Hoan Nguyen di cư khỏi Việt Nam vào năm 1989 cùng với vợ ông là Binh. Vì lo lắng chi phí sinh hoạt cao ở California nên sau 22 năm sống ở Bờ Tây (West Coast), đôi vợ chồng ông cùng 3 người con gái đã quyết định đi tìm vận may ở nơi khác. Do đó, họ đã tham khảo từ một nguồn mà được nhiều thợ làm móng Việt Nam sử dụng khi tìm việc làm: những mục thông tin ở các trang sau của Việt Báo (Viet Bao), một tờ báo được phát hành ở Westminster, California. Trong tờ báo ông Nguyen thấy một thông tin tuyển dụng thợ làm móng của một thẩm mỹ viện tên là Móng Sài Gòn (Saigon Nails) ở ngoại ô Missoula, Montana.

Hoan Nguyen nói: “Tôi không chọn Missoula. Tôi chẳng biết chút gì về Missoula. Nhưng cái bang lạnh lẽo này luôn luôn cần người, nên tôi xem báo và đấy là số điện thoại đầu tiên mà tôi gọi.”

Hoan Nguyen và vợ ông làm việc nhiều giờ ở Móng Sài Gòn, từ 10 giờ sáng đến 7 giờ tối, 6 ngày/tuần, đôi khi làm lâu hơn vào mùa hè khi mà những đôi xăng đan và những đôi giày hở ngón báo hiệu một mùa sơn sửa móng cao điểm.

Hoan Nguyen cho biết: “Người Việt Nam dành nhiều thì giờ cho lao động. Khi người Mỹ nhìn những bàn chân không được chăm sóc của người khác, họ nghĩ “Kinh!”. Nhưng người Việt thì làm công việc đó.”

Theo Hoan Nguyen, một thợ làm móng người Việt trung bình, ngay cả với một người mới tới Mỹ và nói tiếng Anh hạn chế, có thể kiếm được 40.000 đô/năm. Trong thống kê năm 2016 về ngành công nghiệp này do tạp chí Móng thực hiện cũng đưa ra con số tương tự.

Điều này cho ta thấy một bức tranh khác khá nhiều so với hiện trạng lao động ở một tiệm làm móng mà nhiều người biết tới qua loạt bài điều tra năm 2015 của Thời báo New York (New York Times) về tình trạng người làm công không được trả tiền đầy đủ và bị bóc lột. (Loạt bài này tập trung vào các thẩm mỹ viện ở New York/New Jersey, nhưng đấy là 2 bang duy nhất mà ở đó người Việt không chiếm lĩnh ngành công nghiệp này.) Vì nhiều nguyên do, việc người Việt bước vào ngành công nghiệp làm móng đã trở thành lợi ích tài chính đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, cho phép cả người chủ lẫn người làm công tạo được của cải đáng kể khi mà từ năm 2013, ngành công nghiệp này leo lên vị trí một trong những ngành tạo ra 7,5 tỷ đô ở Mỹ. Và làm móng tiếp tục thúc đẩy sự phân tán của người Việt ở khắp nơi trên thế giới.

Giống như Hoan và Binh Nguyen, giáo sư Quan Manh Ha cũng chuyển đến Missoula, Montana vì công việc – chức phó giáo sư (associate professorship) của khoa Anh ngữ trường đại học Montana. Nhưng với giáo sư Ha, người lớn lên tại một thành phố Đà Lạt ở miền Trung Việt Nam, con đường sự nghiệp học thuật của ông khiến ông trở thành người đứng bên ngoài cộng đồng người Việt làm nghề làm móng. Gần như tất cả người bạn Việt Nam của ông, những người cũng di cư tới Mỹ giống ông, đều làm việc trong ngành công nghiệp làm móng.

Ha nói đùa: “Mọi người bảo tôi: “Vì sao sang Mỹ lại đi làm nghiên cứu chứ? Đi làm móng đi!”” Theo đánh giá của ông thì những người bạn thợ làm móng của ông sống ở 4 bang khác nhau là Alabama, Florida, Bắc Carolina, Texas, và những người khác thì ở Holland. “Họ ở khắp mọi nơi.”

Hiện tượng di chuyển đến những thị trấn hoàn toàn khác nhau nhằm tìm cơ hội cho nghề làm móng và ít gặp phải cạnh tranh về giá cả trở nên phổ biến đến nỗi nó đã truyền cảm hứng cho người Việt tạo ra một thuật ngữ: Làm móng xuyên bang (Doing nails across states).

Nhưng người Việt, theo Ha, thì “không muốn sống trong những thị trấn nhỏ. Ở những thị trấn nhỏ, bạn cảm thấy chỉ có mỗi bạn là người châu Á. Ở những thành phố lớn, bạn không có cảm giác bị phân biệt. Ở thành phố lớn, bạn cảm thấy mình như là một phần của thế giới.”   Ông cho biết thêm là không một người bạn nào của ông là thợ làm móng có ý định sống lâu dài ở những nơi mà họ đang làm việc. “Không người nào nghĩ họ sẽ ở lại đó suốt phần đời còn lại.”

Giống Havy Nguyen, Nhung Tran đang hoàn thành bằng cao đẳng trong khi đi làm móng bán thời gian. Tran lớn lên bên cạnh nhà máy sản xuất sợi hủ tiếu quy mô nhỏ của gia đình. Tran nói: “Công việc làm ăn của chúng tôi ở Việt Nam rất ổn. Mọi thứ đều bắt đầu từ đầu. Ba mẹ tôi đã đầu tư rất nhiều thì giờ, tiền bạc, và công sức vào nó.” Tuy nhiên, ông của Tran, người sang Hoa Kỳ đầu tiên dưới thân phận là người tị nạn vào năm 1995, đã bảo lãnh cho các thành viên còn lại cùng theo sang. Đầu tiên họ định cư ở Atlanta. Nhưng thành phố này đã có một cộng đồng người Việt nhập cư tương đối đông đúc và cũng đã có khá nhiều tiệm làm móng. Sau đó một người quen đã bảo bà của Tran thử vận may ở miền bắc, vì ở đó có ít tiệm làm móng hơn và cũng ít cạnh tranh hơn. Họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn. Giờ đây, hầu hết họ hàng của Tran làm việc trong ngành công nghiệp làm móng ở Ohio.

Tran nói: “Nhiều người, có cùng hoàn cảnh như ba mẹ tôi, đến đây vì họ muốn biết đời sống sẽ như thế nào khi ở Hoa Kỳ.”  Nhưng cô cũng nói thêm: “Chắc chắn là họ sẽ muốn trở về Việt Nam khi về già vì họ không định sống lại ở đây mãi. Họ nhớ nhà. Đó là nơi họ đã lớn lên.”

***

Nghề làm móng của người Việt có liên quan đến năm 1975. Đây là thời điểm xuất hiện những làn sóng di cư tới Mỹ đầu tiên của người Việt sau sự sụp đổ của Sài Gòn. Trong khoảng thời gian này, nữ diễn viên Hollywood là Tippi Hedren, ngôi sao phim Đàn chim dữ (The Birds) của đạo diễn Alfred Hitchcock, đã bắt đầu đến làm tình nguyện tại trại tị nạn tên là Ngôi làng Hy vọng (Hope Village) nằm bên ngoài thành phố Sacramento. Khi một số phụ nữ Việt Nam ở trại tị nạn để ý bộ móng đẹp đẽ của Hedren, cô đã quyết định mua vé máy bay đưa thợ làm móng của cô đến đây. Hedren đã nói với tạp chí BBC (BBC magazine) vào năm 2015: “Chúng tôi cố giúp họ tìm được nghề nghiệp nào đó. Tôi đã đưa các cô thợ may và nhân viên đánh chữ đến – bất kì nghề gì mà họ có thể học được. Và họ yêu móng tay của tôi.”

Sau những lớp học với thợ làm móng của Hedren và một khóa tiếp nối sau đó tại Trường Làm đẹp Citrus (Citrus Beauty School), một nhóm đầu tiên gồm 20 phụ nữ Việt đã trở thành những thợ làm móng người Việt đầu tiên làm việc trong ngành công nghiệp làm đẹp tại Hoa Kỳ. Và cuối cùng một số người rồi sẽ mở những tiệm làm móng đầu tiên của người Việt tại California.

Công việc này có một sức hút mà trước nay và bây giờ vẫn như vậy: không có nhiều rào cản khi vào làm, tiền công tốt, và không đòi hỏi tiếng Anh. Hoan Nguyen nói: “Đối với nghề làm móng, chỉ mất 5-6 tháng là bạn đã lấy được chứng chỉ và có thể đi làm. Bạn không phải sử dụng tiếng Anh nhiều.”

Để vượt qua bài kiểm tra để lấy chứng chỉ được cấp bởi các ban mỹ dung tiểu bang (state cosmetology board) và đáp ứng yêu cầu số giờ kiến thức tốt thiểu, phần lớn thợ làm móng ghi danh vào các khóa học của những trường làm đẹp chuyên môn, mà nhiều trường thì nằm ở California và cũng do người Việt làm chủ. Những trường này thường dạy bằng tiếng Việt, một thuận lợi cho người mới nhập cư sang Mỹ.

Tam Nguyen là hiệu trưởng trường Cao đẳng Làm đẹp Tiến bộ (Advance Beauty College), một trong những ngôi trường dạy làm đẹp lâu đời nhất của người Việt tại quận Cam, California. Tam Nguyen cho biết có những thời điểm hơn một nửa học viên người Việt của trường ông chuyển đến những thị trấn nhỏ sau khi tốt nghiệp. Nhiều người chọn những bang gia đình họ đang sinh sống. Số khác thì tìm hiểu xem những thị trấn nào sẽ là nơi đem lại nhiều lợi ích nhất cho họ.

Nhưng làm móng xuyên bang thường có những cái giá phải trả. Tam Nguyen nói: “Chúng tôi biết là về mặt tích cực nghề này sinh lợi, nhưng mặt trái là sự cô đơn và sốc văn hóa.” Tam Nguyen cho biết trong khi rất nhiều người trong số những thợ làm móng người Việt có thể có được một cuộc sống sung túc và dành dụm được tiền, họ thường có cảm giác chán nản và bị cô lập, đặc biệt là nếu không có những phương tiện thỏa mãn về niềm khao khát văn hóa Việt Nam trong những thành phố lớn hơn.

Và ở một vài thị trấn nhỏ, những nơi mà có vẻ như trò giải trí duy nhất lại là sòng bạc tại địa phương, của cải của họ đang bị hủy hoại. Tam Nguyen nói: “Nó thực sự gây tổn hại đến gia đình. Chúng tôi lúc nào cũng nghe thấy những câu chuyện như thế này: “Chúng tôi có nhà đẹp, xe sang, nhưng chúng đang bị mất dần vì cờ bạc.”” Nguyen xác nhận rằng có nhiều thợ làm móng người Việt đang cân nhắc trở về Việt Nam. Ông nói: “Họ đang nghĩ về hạnh phúc.” Rồi hỏi: “Tất cả đồng tiền mà chúng ta kiếm được có thực sự đáng như thế không?”

***

Lịch sử nước Mỹ cho chúng ta nhiều ví dụ về những người nhập cư dám nghĩ dám làm, những người đã hợp lại với nhau cùng hình thành và làm những ngành nghề nhất định, từ nhóm giặt là người Trung Quốc của thập niên 1920 đến nhóm tạp hóa người Hàn Quốc và nhóm công nhân xây dựng và làm vườn người La-tinh ngày nay.

Nhưng kinh nghiệm của người Việt trong ngành công nghiệp làm móng là độc nhất, bắt đầu với phạm vi địa lý tuyệt đối của việc chiếm lĩnh ngành công nghiệp này. Nhiều tiệm làm móng do người Việt làm chủ và điều hành nằm ở mọi bang, kể cả Alaska, Tam Nguyen cho biết.

Theo giáo sư William Kerr thuộc Trường Kinh doanh Harvard (Harvard Business School), sự so sánh gần nhất với hiện tượng này có thể là ngành kinh doanh quản lý khách sạn của người Ấn Gujarat. Người Ấn sỡ hữu xấp xỉ 40% các khách sạn cho người lái xe ô tô có chỗ đỗ xe ngay gần các phòng (motel) ở Hoa Kỳ. Nhưng sự chiếm lĩnh của họ trong ngành công nghiệp này không mở rộng khắp nước Mỹ như người Việt Nam. (Những tiệm làm móng của người Việt ngày nay có thể được tìm thấy ở mọi thành thị, thị trấn của Canada, Anh quốc và Úc.) Kerr giải thích: “Đạt được cả về độ dàn trải và sự chiếm lĩnh đỏi hỏi một sự cân bằng mà hiếm có được về quy mô của nhóm tộc người (ethnic group size), sự cố kết chặt chẽ và những điều kiện công nghiệp đúng đắn.”

Hiển nhiên, cả ba yếu tố này giúp giải thích hiện tượng sự chiếm lĩnh lấn át của cộng đồng người Việt trong ngành công nghiệp làm móng. Nhưng còn một nhân tố nữa.

Theo Susan Eckstein, trên thực tế, người Việt đã hình thành một thị trường cho ngành làm móng và mở rộng nó. Susan Eckstein là nhà xã hội học của Đại học Boston. Bà tập trung nghiên cứu chủ yếu vào những ngành công nghiệp do tộc người độc bá (ethnic niche industries)[3] và đang cân nhắc viết một cuốn sách về trường hợp độc đáo của người Việt và ngành công nghiệp làm móng. Trong một bài báo khoa học viết về chủ đề này vào năm 2011, được đăng trên tạp chí Bình luận Di dân Quốc tế (International Migration Review), Eckstein lập luận rằng chính “McNailing” của ngành công nghiệp này vào các thập niên 1980 và 1990 – giá cả thấp và sự tiện lợi do các tiệm làm móng của người Việt cung cấp – đã thúc đẩy nhu cầu về những người thợ sơn sửa móng đến mức việc bộ móng của bạn được cắt sửa trở thành “de rigueur” (nghi thức) đối với một bộ phận dân chúng rộng lớn hơn, chứ không còn chỉ mỗi phụ nữ giàu sang.

Eckstein nói: “Họ [người Việt] đã thay đổi quy chuẩn về cái đẹp.”

Tam Nguyen nghĩ rằng ngành công nghiệp này sẵn sàng phát triển vượt qua khỏi những ấn tượng thường có về vi phạm pháp luật cùng với những cửa hiệu làm móng chiết khấu “không giấy phép, không đào tạo”. “Một bà chủ hiệu làm móng người Việt điển hình thì không biết nói tiếng Anh. Quan điểm ấy đang thay đổi? Chắc chắn rồi.” Tam Nguyen nói rằng những thợ làm móng ở các cửa hiệu đang ngày càng trở thành một “chuyên viên làm móng”, hay thậm chí là một “nghệ sĩ làm móng”. (Nail art [Nghệ thuật làm móng] là một trong những mục phổ biến nhất trên Instagram.) Và theo Tam Nguyen thì hiện nay, ngày càng nhiều học viên là người La-tinh và người da trắng vào học trường Cao đẳng Làm đẹp Tiến bộ, mà vốn trước đây trường này hầu như chỉ dành cho học viên người Việt.

Dẫu vậy, theo thời gian, nếu bạn thả bộ vào hiệu làm móng tại địa phương mình, bạn sẽ có cơ hội nhìn thấy một bàn thờ truyền thống của người Việt gần cửa ra vào và một thợ làm móng, với cây dũa móng, đến từ những nơi như Nha Trang, Sài Gòn, Bình Dương hay Vũng Tàu.

Quay lại tiệm Làm móng mộc mạc trên phố chính của Điểm Tây, Virginia. Havy Nguyen cho biết chuyện làm ăn năm nay, như hầu hết các năm, có khi khấm khá có khi ế ẩm. Cô nói: “Trong cái ngành kinh doanh làm móng này, chẳng thể nào biết trước.” Và kể cả trong mùa hè, lượng khách hàng cũng có thể dao động. “Nhiều khi ta chỉ có thể ngồi đó và chờ.”

Theo Havy Nguyen, trở thành dân nhập cư và chủ một tiệm kinh doanh suốt 20 năm ở một thị trấn nhỏ trên đất Mỹ chẳng phải chuyện dễ dàng. “Đó là một chuyện thật sự đáng tự hào.” Nhưng cô nghĩ rằng nếu mẹ cô có được một cơ hội khác thì bà sẽ chọn làm y tá hơn là làm thợ làm móng vì mẹ cô yêu thích công việc chăm sóc người khác. “Mẹ tôi luôn luôn dành nhiều sự quan tâm đến những người khách của mình, nhất là với người già.”

Trong lúc đó, Havy Nguyen cũng đã lên xong kế hoạch sau khi lấy bằng biểu diễn nhà hát (theater performance) của trường Đại học Liên bang Virginia (Virginia Commonwealth University): đến thử giọng tại New York và Los Angeles cho các chuyến lưu diễn nhạc kịch quốc gia.

Cô nói: “Chẳng ai mơ đi chùi rửa chân người khác cả.”

Joseph Babcock

Thiên Thanh dịch theo Daily Beast

[1] Nguyên văn là nail diasporo. Diasporo là từ để chỉ một nhóm người là thành viên của một nhóm tộc người hay tôn giáo nào đó bị buộc phải di trú khỏi vùng đất tổ tiên sang những vùng đất khác. Từ này xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ là dia sperio, nghĩa là “phân tán”. Khái niện của diasporo vốn từ lâu được dùng để chỉ người Hy Lạp (Greek) thuộc giới Hy Lạp cổ đại (Hellenic world) và người Do Thái sau sự sụp đổ của Jerusalem vào đầu thế kỉ 6 TCN. Sang đầu những thập niên 1950 và 1960, các học giả bắt đầu dùng từ này để chỉ lưu dân châu Phi (African diasporo), và những năm về sau nội hàm của từ này ngày càng được mở rộng. (Theo Từ điển bách khoa Britannica bản tiếng Anh điện tử). Dựa trên nội dung của bài báo này, người dịch xin dịch nail diaspro là lưu dân Việt làm nghề làm móng.

[2] Người dịch xin giữ nguyên cách viết tên người Việt của tác giả bài báo.

[3] Ethnic niche là thuật ngữ để chỉ sự tập trung của tộc người vào thị trường lao động và kết quả dẫn đến là những tộc người thiểu số trở thành một đại diện hơn mức bình thường trong những nghề nghiệp hoặc những ngành công nghiệp nhất định (Zeltzer-Zubida, 2004). Trong trường hợp cụm ethnic niche industries của bài báo này, người dịch xin dịch là những ngành công nghiệp do tộc người độc bá.

Thiên Thanh

Related Posts