Ký hiệu học của trà sữa trân châu

Trà sữa trân châu

Thay vì viết thẳng một bài bình luận trực tiếp về cuốn sách hấp dẫn của Paul Manning, The Semiotics of Drink and Drinking (tạm dịch: Ký hiệu học của việc uống và thức uống), tác phẩm đoạt giải thưởng Sapir[1] năm 2013, tôi nghĩ mình có thể hiểu cuốn sách bằng cách cố gắng áp dụng những lý giải và kỹ thuật phân tích của Paul vào một lĩnh vực quen thuộc với tôi hơn vấn đề nước Georgia hậu Xô-viết, đó là văn hóa trà đương đại ở Đài Loan.

Đôi lời dành cho những người chưa biết. Trà sữa trân châu là một loại trà sữa có vị ngọt, thường uống với đá, trong trà cho thêm những hạt nhỏ làm bằng khoai mỳ (hạt trân châu)[2], và dùng một loại ống hút miệng rộng để uống. Món trà sữa đầu tiên xuất hiện ở Đài Loan vào những năm 80 của thế kỷ XX, và nhanh chóng lan tỏa khắp thế giới. Ngày nay, ở Đức, trà sữa còn được phục vụ trong cả McDonald’s lẫn các tiệm McCafé.

Chiến dịch quảng cáo của McCafé[3] làm tôi cảm thấy có hơi bị xúc phạm, nhưng nó đã nhấn mạnh được sự lan tỏa toàn cầu của món trà sữa kiểu Đài Loan. Tôi nghĩ chiến dịch đó còn phản ánh được mối liên hệ giữa thức uống và sự kỳ lạ của một sự (hậu) hiện đại đến từ bên ngoài ở châu Á. Tuy nhiên, ở đây tôi chỉ tập trung vào ký hiệu học của trà sữa trong bối cảnh Đài Loan: sử dụng trà sữa như một công cụ để xem xét các nỗ lực phát triển một hình thái hiện đại độc nhất thuộc về Đài Loan duy nhất.

Trước khi bàn vào với vấn đề đó, đầu tiên ta cần làm rõ ký hiệu học một chút. Một trong những điều thú vị trong cách tiếp cận ký hiệu Peirce[4] của Paul là nó nghiêm túc xem xét “tính vật thể của ký hiệu”. Có thể nói rằng những khía cạnh vật chất của ký hiệu là một vấn đề quan trọng, chứ không chỉ là những nghĩa biểu tượng mà chúng đại diện.

Một ví dụ mà Piece đưa ra chính là từ “con người”[5] được viết bằng những phương thức truyền thông khác nhau: Chỉ khi nào chúng ta quan tâm đến các khả năng viết chữ “con người” bằng những cách khác nhau, còn không thì việc viết đó hầu như không có vấn đề gì, dù chữ “con người” được viết nó bằng mực trên giấy, phấn trên bảng, bút đánh dấu trên một bức tường, hoặc khắc nó trên bàn bằng dao. Tuy nhiên, từ vị trí của người dọn dẹp đang cố gắng để làm sạch lớp học, hay một người quản lý đang cố gắng xác định xem chữ này được sử dụng đúng cách hay là một sự phá hoại lớp học, thì sự khác biệt về chất liệu thật của ký hiệu tạo nên một nghĩa riêng cho ký hiệu, và sự đa dạng trong chất liệu có thể tạo nên một trường nghĩa ký hiệu riêng cho nó.

Ảnh: Dimitri Fedorov.

Nếu sự khác biệt về vật chất có thể tạo nên trường nghĩa riêng của bản thân ký hiệu, thì những thứ như sự khác biệt giữa hồng trà và trà ô long[6] cần được xem xét thận trọng khi nói về ký hiệu học của thức uống. Vấn đề ở đây không chỉ là sự khác biệt về mùi vị, mà còn là về công nghệ sản xuất, nhân công sản xuất và người tiêu dùng. Một trong những khác biệt chính giữa trà ô long và hồng trà đen là thời gian ủ trà, nếu ủ trà càng lâu thì trà đắng hơn và có nhiều caffein hơn. Theo truyền thống, trà ô long chỉ được làm từ lá của một loại cây riêng biệt, không pha trộn như hồng trà kiểu Anh.[7]

Việc thưởng thức trà ô long ở Đài Loan vừa mang tính nghiêm trang lại vừa thân mật. Thường thì khi đến nhà một người nào đó, bạn sẽ được phục vụ trà nhanh chóng từ một bộ pha trà gồm một bình nước sôi, một ấm nấu, một bình đựng dáng thon, và một chén nhỏ để uống trà. Theo một kiểu khác nghiêm trang  hơn, bộ trà có thể có thêm những chén ngửi trà đặc biệt, là những chén dùng để tráng nước trà lượt đầu tiên, chỉ lưu lại duy nhất mùi hương thơm đặc biệt của trà. Ở đây đòi hỏi phải có sự chuyên nghiệp tinh tế để biết cách tráng trà, thời gian om trà trong ấm, và bao nhiêu tuần trà trước khi pha trà mới.

Việc sản xuất trà sữa trân châu rất nhiều khác trà truyền thống. Trà sữa ở Đài Loan hiếm khi được bán ở một cửa hàng thức uống có phục vụ chỗ ngồi. Về cơ bản, trà sữa thường được bán ở trên đường phố và được đựng trong một ly giấy được ép kín nắp ly bằng một lớp giấy nhựa. Máy ép nắp ly là một sự hiện đại đáng kinh ngạc, bởi nó có thể ép cả trăm ly chỉ trong một giờ đồng hồ.

Ống hút dùng để uống trà sữa được làm nhọn một đầu để bạn có thể đâm nó vào lớp bọc miệng ly dễ dàng. Điều đó cũng có nghĩa là trà sữa không được thiết kế như một thức uống mang tính xã hội như cà phê hay trà Trung Quốc (vốn được biết đến nhiều hơn), mà được thiết kế như một món đồ uống có thể dùng nhanh chóng khi đói hoặc mệt lúc đi làm hoặc khi mua sắm.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, trà sữa chia sẻ nhiều giá trị chung với rượu Martini, như đã Paul được nói đến trong chương bàn về rượu Gin. Ở một so sánh chưa hoàn toàn chính xác, có ba điểm tương đồng giữa trà sữa và rượu Martini. Đầu tiên, giống như rượu Gin, đó là quá trình sản xuất trà, “bao gồm trong đó là quá trình loại bỏ những thứ có thể được gọi là tính chất giác quan “tự nhiên”. Có thể nói rằng, trong khi trà ô long chú trọng dùng lá trà tự nhiên với kỹ thuật pha trà bằng tay điêu luyện để bật lên được chất hương vị đặc trưng của từng loại trà, thì trà sữa lại giấu đi vị đắng của hồng trà đen trong “một hỗn hợp của sữa, kem, và… si rô”.[8]

Điểm thứ hai, Paul thảo luận về việc bằng cách nào mà những ly Martini gợi lên tính thẩm mỹ hiện đại. Tuy nhiên, ở đây có vài sự khác biệt nhỏ, những ly nhựa đựng trà sữa dùng một lần với nhãn hiệu được in trên vỏ ly khiến tôi đến nghĩ về xu hướng hậu hiện đại hơn là hiện đại như rượu Martini. Và trong khi Paul thấy cách thức pha chế cũng quan trọng như cách phối thức uống với Martini (“việc chế tạo Martini là một sự trình diễn điêu luyện, nó tập trung vào trình tự  của quá trình pha chế… ‘quy tắc Martini'”), thì việc pha chế trà sữa lại hoàn toàn được cơ giới hóa. Đoạn video sau[9] cho ta biết cách pha chế trà sữa. Mặc dù trà sữa được làm trong những bình lắc cổ điển, nhưng máy móc mới thật sự “lắc” chúng.

Điểm thứ ba, Paul thảo luận về bằng cách nào mà những buổi tiệc cocktail phục vụ rượu Martini lại không hề giống với những bữa tối trang trọng của thời đại trước, “làm nổi bật những người tham gia như một cá thể hoàn toàn tự do, bất kể giới hay tình trạng hôn nhân”. Tương tự, có thể thấy sự tương phản giữa việc thưởng thức trà ô long trong phòng khách được phục vụ bởi chủ nhà với trà sữa được phục vụ trên đường phố bởi những người bán hàng ta không quen biết (và người bán thường là những người trẻ và là nữ giới). Sự khác biệt mang tính cá nhân trong trà sữa thậm chí còn tạo ra sự băn khoăn về những ảnh hưởng của nó tới môi trường chung. Một bản tin thời sự gần đây tôi xem trên ti vi đã tường thuật lại việc các văn phòng tìm cách giảm chất thải môi trường và giảm sự lãng phí kinh tế bằng cách làm những thùng to chứa những vị trà khác nhau dành cho nhân viên. Một nhân viên được phỏng vấn chỉ ra rằng thật sự rất khó để đáp ứng khẩu vị riêng của từng người.

Tuy nhiên, sự phát triển gần đây đang dần thay đổi cách người Đài Loan nghĩ về trà sữa. Trong khi trà sữa ban đầu được định vị như một sản phẩm hiện đại bị phương Tây hóa – tôi nhớ có một cửa hàng bán trà vào đầu những năm 2000 có một đường dẫn Internet (không hoạt động) thay vì một cái tên – mà bây giờ trở thành một trào lưu của việc tái truyền thống hóa. Nhiều quán trà bây giờ phục vụ cả trà sữa làm từ trà ô long. Gần cơ quan tôi có một quán trà với sản phẩm chính là “Tieguanyin Latte”, một thức uống được làm từ lá trà ô long được ủ ở nhiệt độ cao, sữa tươi (ngược lại với sữa bột thường được dùng trong trà sữa), và được bán không kèm các hạt trân châu. Nhưng sự tái truyền thống hóa không chỉ giới hạn ở là trà. Trang chủ của website cửa hàng trà này đã thể hiện những đặc trưng của của hàng, đầy đủ từ đèn lồng đỏ Trung Quốc, băng ghế gỗ, và những dấu hiệu gợi nhớ về truyền thống.

Quầy của cửa hàng trà theo phong cách retro modern

Tượng tự, người ta cố gắng định vị thương hiệu Đài Loan hiện đại như là nguồn gốc của những nhung nhớ lịch sử về quê hương với sự gợi nhớ về thời đại nhạc jazz, điều này cũng có thể được tìm thấy trong những bộ phim Đài Loan gần đây như “Twa Tiu Tiann  大稻埕”[10], một kiểu phim “Back to the Future”[11] của Đài Loan.

Xuất phát một phần từ mong muốn mang tính chủ nghĩa dân tộc là định hình một Đài Loan hiện đại (và cả quá khứ) như một sự khác biệt rõ với Trung Quốc, trà sữa còn phản ánh sự bất mãn với chủ nghĩa cá nhân bị cơ giới hóa trong xã hội hiện đại. Dù sao thì trà sữa vẫn là thức uống rất đáng để thưởng thức.

Kerim Friedman

Lê Thị Tuyết Lan dịch theo Savage Minds

[1] Giải thưởng Sapir, tên đầy đủ là giải thướng Sách Edward Sapir (tiếng Anh: Edward Sapir Book Prize), được thành lập vào năm 2001, nhằm trao giải và tôn vinh những cuốn sách có đóng góp sự hiểu biết về ngôn ngữ trong xã hội và về những phương thức mà ngôn ngữ tác động lên tiến trình lịch sử và tiến trình văn hóa xã hội đương đại. Xem thêm: http://linguisticanthropology.org/about/prizes/.  (BT – Những chú thích kèm theo BT là của biên tập viên.)

[2] Chú giải của người dịch. (Những chú thích kèm theo ND là của người dịch.)

[3] https://www.youtube.com/watch?v=OzWRy4S8Q4E.  (ND)

[4] Lý thuyết ký hiệu của Pierce tập hợp những diễn giải về sự biểu thị, sự đại diện, và ý nghĩa, nghiên cứu mối tương quan giữa ký hiệu, đối tượng và cách giải thích ký hiệu. Xem thêm: https://plato.stanford.edu/entries/peirce-semiotics/. (BT)

[5] Trong nguyên tác là “man”. (ND)

[6] Do khuôn khổ của bài viết nên tôi không thể nói thêm về trà xanh. Đề tài này sẽ phải chờ trong một bài khác. (TG – Những chú thích có kèm TG là của tác giả.)

[7] Cần nói thêm là ở Đài Loan, hồng trà nguyên lá được ủ trong thời gian ít hơn một chút, làm hương vị của chúng gần giống trà ô long, và không uống với sữa và đường. (TG)

[8] Paul lấy câu này từ bài viết của Mark Ellis về Strarbucks. (TG)

[9] https://www.youtube.com/watch?v=Hoh0GbcTBlg

[10] Tựa tiếng Việt là “Chàng trai đến từ tương lai”.

[11] Tựa tiếng Việt là “Trở về tương lai”.

Kerim Friedman là phó giáo sư của Bộ Quan hệ Tộc người và Văn hóa thuộc Đại học Quốc gia Dong Hwa (Đài Loan), dạy môn nhân học ngôn ngữ và hình ảnh. Ông đồng sản xuất phim Please Don’t Beat Me Sir! đã đoạt giải Jean Rouch 2011 của Hội Nhân học Hình ảnh Hoa Kỳ (Society of Visual Anthropology).