Đấu tranh sinh thái, tạo dựng vũ trụ luận của người Khmer Nam Bộ

(Nhân đọc cuốn The Khmer Lands Of Vietnam: Environment, Cosmology and Sovereignty – Philip Taylor)

Phải nói rằng tôi muốn viết giới thiệu cuốn sách này khá lâu rồi. Đây là một cuốn sách rất hay nghiên cứu về người Khmer Nam Bộ một cách hệ thống nhất của giáo sư nhân học Philip Taylor. Trong cuốn sách, tác giả đã nghiên cứu từ việc người Khmer đối chọi với môi trường sinh thái như thế nào để tồn tại và phát triển, từ đó tìm hiểu vũ trụ quan của tộc người này, sự vận động văn hóa của người Khmer suốt dãi đất Nam Bộ song song với sự vận động văn hóa cùng nhiều tộc người khác ở đây. Người Khmer Nam Bộ vẫn là tộc người rất ít được tiếp cận đối với các học giả nước ngoài. Cuốn sách này đặt nền móng cho phát triển nhiều vấn đề khác trong nghiên cứu người Khmer Nam Bộ và các lĩnh vực nghiên cứu khác vượt ra khỏi vấn đề về văn hóa.

 

Phong cách viết dân tộc chí của Taylor đầy thú vị trong cuốn sách này. Với mười ba chuyến đi điền dã trong vòng hơn một thập niên tới hàng trăm ngôi làng Khmer lớn nhỏ suốt khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, lúc thì đi xe máy, lúc thì đi quanh bờ biển nơi mà “muối trong không khí hòa quyện với mùi thơm ngọt ngào của phân bò” để có thể gặp những người Khmer ở trong các ngôi làng. Taylor đã rất thông thạo ngôn ngữ của người Khmer và cả tiếng Việt, những chuyến điền dã ấy đã giúp cho ông thu thập rất nhiều thông tin về việc di cư, xung đột và các mô hình định cư của người Khmer Nam Bộ mà sử sách chưa nói tới, vẽ ra những vùng sinh thái của người Khmer, kể lại vũ trụ luận của họ thông qua các câu chuyện của các nhà sư Khmer của mỗi vùng. Đây còn là tiền đề để hiểu mối quan hệ lịch sử giữa Campuchia và Việt Nam.

Dân tộc chí của Taylor đặc biệt ở chỗ là ông đã quay trở lại với cách viết nhân học truyền thống, chính là cách kể chuyện theo phong cách uy quyền của nhà nhân học mà đã bị phê phán thời gian dài. Nhưng ông ấy vẫn không từ bỏ quan điểm nghiên cứu chính là đối thoại với người Khmer Nam bộ, và những đoạn hội thoại vẫn được trích ra và liệt kê dài trong sách từ những cuộc phỏng vấn. Thực tế, phong cách viết của Taylor là sự chuyển đổi khéo léo giữa ETIC và EMIC và nhiều nhà nhân học gần đây làm không được. Lối viết lúc thì là trong cuộc, lúc thì của người ngoài cuộc tinh tế đến việc sử dụng các thuật ngữ.

Điều đặc biệt ở công trình của Taylor chính là vẽ ra bảy vùng sinh thái nơi mà người Khmer Nam Bộ sinh sống, đó là kết quả mà ông rút ra được sau một thời gian dài quan sát các mô hình định cư của người Khmer và sự thực hành sinh thái ở nơi đây. Tuyên bố quan trọng của cuốn sách là “Người Khmer Nam bộ sống rải rác nhiều khu vực mà sự thiếu hụt đất đai sinh sống và nguồn nước rất là cấp bách” (tr255). Nhưng người Khmer vẫn sinh tồn và phát triển, theo như Taylor cho rằng bí quyết của họ chính là một kiến thức về môi trường sinh thái vô cùng chuyên sâu để giải quyết nhu cầu về nước ngot và đất đai.

Chương 1 bắt đầu với các khu vực của Đồng bằng Sông Cửu Long gíap với Biển Đông bao gồm các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu, khu vực này được mô tả cồn cát tạo ra bởi dòng hải lưu và hình thành đất đại đặc biệt tạo nên khu vực cao để bảo vệ khỏi sự ngập mặn và địa hình như vậy thì người Khmer đã tìm kiếm nguồn tiếp cận nước ngọt như thế nào. Chương 2 thì khảo sát một phần khu vực Sóc Trăng và Bạc Liêu, nơi các đụn cát nhô cao xen kẽ với các con sông nước ngọt, nơi này là sự giao lưu giữa người Khmer, Việt và Hoa. Ở đây theo như tác giả nhận xét tạo nên sự cởi mở và đổi mới với người Khmer ở khu vực này. Đặc biệt ông nhấn mạnh rằng cộng đồng Khmer nơi đây đã có một sự liên kết căn tính (identity) qua huyền thoại Nữ hoàng Neang Chan đã chạy thoát ra khỏi cung điện và ngã xuống dòng sông và giờ là tên của cô ấy, phần cơ thể của cô ấy đã rải rác ra nhiều khu vực mà đã biểu tượng hóa cho sự tan rã của cộng đồng Khmer, Viêt và Hoa ở đây, và các cộng động phát triển và định cư tại các nơi lấy tên bộ phận cơ thể của Nữ hoàng đó.

Chương 3 dẫn người đọc đến các dòng sông nước ngọt từ Vĩnh Long, Cần Thơ và Hậu Giang, một phần Trà Vinh và Sóc Trăng. Nơi này đất đai màu mỡ và giàu nước ngọt, nơi đây vào thế kỷ XVII đã có nhiều cuộc xung đột, người Khmer ở đây đã phải di dời và tái định cư nhiều lần trong suốt nhiều thế kỷ cho đến chiến tranh thế kỷ XX. Chương 4 là khu vực Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc LIệu mà cộng đồng ở đây sống gần sông là cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt, tính gắn bó cộng đồng đã hình thành bởi sự chia sẻ tài nguyên và vũ trụ quan về những cậu chuyện liên quan tới nguồn nước. Trong thế kỷ trước người Pháp và người Việt đã xây dựng hệ thống tưới tiêu tạo ra nguồn nước uống sạch, bởi vì thế cộng đồng đã không còn tính cố kết với nhau trong việc tìm tài nguyên nước nữa, Phân bón và thuốc trừ sâu cũng đã làm nhiểm độc nguồn nước, gây hại lên các động vật mà là nguồn thực phẩm phụ thuộc của cộng đồng Khmer nơi đây. Chương 5 tập trung vào khu vực cao nằm ở phía nam sông Hậu tại An Giang. Nơi này được biết rằng duy trì nhiều phong tục tập quán và ngôn ngữ Khmer cổ. Tuy nhiên các cuộc chiến ở thế kỷ XX đã làm cộng đồng người Khmer ở đây phân tán và mất đi nhiều di tích. Chương 6 người đọc được đến với các ngọn núi nằm phía biểu, khu vực ven biển giữa Hà Tiên và Rạch Giá, cộng đồng tại đây có sự gắn kết những người ở biên giới Campuchia. Sự liên lạc của nhóm này với Campuchia từng bị gián đoạn vào thời kỳ Khmer Đỏ, nhưng sau đó đã được nối lại. Nơi này phát triển kinh tế chủ yếu là đánh bắt cá, khai thác rừng, mỏ và sau này là du lịch. Chương cuối cùng tập trung vào các vùng đất cao phía Đông Bắc kéo dìa từ Tây Ninh tời Thành phố Hồ Chí Minh dưới dãy trường sơn và dọc bờ biển Campuchia. Khu vực này bao gồm núi Bà Đen, là nơi người Khmer Nam Bộ định cư sớm nhất. Trong thời chiến tranh Đông Dương, cộng đồng ở đây đã bị nhiều ảnh hưởng của thời chiến gây tác động lên dân số và phải di cư.

Cuốn sách về sự thích ứng sinh thái của người Khmer Nam Bộ đã làm Taylor phải đặt ra câu hỏi liên tục ở mỗi chương rằng dù sống ở các khu vực môi trường sinh thái khác nhau nhưng những cộng đồng vẫn nhận diện mình là người Khmer Nam Bộ với ý thức tộc người mãnh liệt. Phải đặt vào bối cảnh thế nào mà bản sắc văn hóa của người Khmer Nam bộ lại không bị phân mảnh, hay đồng hóa ? Nhiều nhà nhân học đã từ lâu tranh luận vấn đề hình thành căn tính tộc người không chỉ phụ thuộc vào môi trường sinh thái mà là quá trình đàm phán và tương tác liên tục giữa các tộc người. Cuốn sách cho thấy rằng không phải điều gì cũng do sinh thái quyết định, mà người Khmer Nam bộ không chỉ được tôi luyên bởi môi trường sinh thái mà còn chia sẻ chung tôn giáo, vũ trụ quan, câu chuyện..v.v… để xây dựng nên căn tính riêng. Cuốn sách kết thúc bằng cách cho thấy rằng con người tương tác với môi trường, nhưng loài người không nhất thiết bị ảnh hưởng và chi phối bới sự tương tác đó.

Lĩnh vực quan tâm Nhân học đô thị, Nhân học biểu tượng.